- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại sức khỏe giữa bà N và ông K"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị N. Buộc ông Đỗ Đình K và anh Đỗ Đình Mỹ T phải liên đới bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bà Đỗ Thị N với số tiền 9.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI NHƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 135/2019/DS-ST Ngày: 19-9-2019 V/v tranh chấp về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hồng Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Ngô Thị Thúy Hồng
2. Bà Trương Thị Diện
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Nhơn tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Nhơn tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Đình – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Hoài Nhơn tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 137/2018/TLST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2018 về việc Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2019/QĐXX-ST ngày 08 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị N, sinh năm 1969
Địa chỉ: Thôn LK, xã HĐ, huyện H, tỉnh B.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Chị Đỗ Ngàn Kiều Hg, sinh năm 1990, địa chỉ: Thôn LĐ, xã HĐ, huyện H, tỉnh B là người đại diện theo ủy quyền của bà N (Giấy ủy quyền ngày 14/8/2018). (Có mặt)
2/ Bị đơn: - Ông Đỗ Đình K, sinh năm 1966 (Vắng mặt)
- Anh Đỗ Đình Mỹ P, sinh năm 1997 (Vắng mặt)
- Anh Đỗ Đình Mỹ T, sinh năm 2000 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn LKT, xã HĐ, huyện H, tỉnh B.
3/ Người làm chứng: Bà Đỗ Thị Mỹ C, sinh năm 1978 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn LK, xã HĐ, huyện H, tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai của nguyên đơn và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tại phiên tòa:
Ngày 21/7/2017, ông Đỗ Đình K dùng tay đánh vào mặt bà Đỗ Thị N, các con của ông K là Đỗ Đình Mỹ P và Đỗ Đình Mỹ T đá, đạp vào đầu vào mặt bà N và dùng mũ bảo hiểm đánh vào mặt làm bà N bất tỉnh phải nhập viện điều trị. Thời gian nhập viện tại Bệnh viện đa khoa khu vực Bồng Sơn từ ngày 21/9/2017 đến ngày 27/9/2017 được chẩn đoán chấn thương sọ não, đa chấn thương phần mềm. Sau đó, do sức khỏe chưa phục hồi nên nhập viện điều trị tiếp từ ngày 28/9/2017 đến ngày 11/10/2017 thì xuất viện. Ông K và anh P, anh T đánh bà N gây thiệt hại về sức khỏe nhưng không không chăm sóc, không lo thuốc men điều trị. Công an xã Hoài Đức đã giải quyết nhưng bà N không đồng ý. Sau đó, bà N có đơn yêu cầu xử lý hình sự gửi Công an huyện Hoài Nhơn. Ngày 12/01/2018, Công an huyện Hoài Nhơn trả lời không khởi tố vụ án hình sự. Nay bà N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông K, anh P, anh T bồi thường thiệt hại do sức khỏe của bà bị xâm phạm, cụ thể:
+ Chí phí tiền thuốc 347.153 đồng; tiền xe 230.000 đồng; chi phí khám mắt và điện não là 70.000 đồng.
+ Tiền thu nhập bị mất trong thời gian điều trị tại bệnh viện của bà N và người chăm sóc là 21 ngày x 150.000 đồng/ngày x 2 người = 6.300.000 đồng.
+ Bồi thường tổn thất tinh thần với số tiền 65.000.000 đồng.
- Theo Bản tự khai ngày 18/9/2018 bị đơn ông Đỗ Đình K trình bày:
Ngày 21/9/2017, do không thống nhất về ngày cúng mẹ nên giữa ông và bà N có cãi vả, bà N có lời lẽ xúc phạm và có hành vi thách thức ông. Do nóng nảy nên ông có tát bà N mấy tát. Con trai ông là Đỗ Đình Mỹ T chạy ra xô bà N ngã và có đánh bà N nhưng được ông K can ngăn. Sau đó Công an xã đến làm việc, ông có nói là việc gia đình để tự giải quyết nhưng bà N yêu cầu Công an lập biên bản. Như vậy, sau khi đánh bà N vẫn tỉnh táo, đầu vẫn đội mũ bảo hiểm nên bà N vu khống chứ không bị chấn thương sọ não. Trong quá trình nằm viện tình hình sức khỏe của bà N cũng không có gì, tiền thuốc chỉ khoảng 400.000 đồng. Con của ông là Đỗ Đình Mỹ P không đánh bà N. Việc bà N yêu cầu bồi thường số tiền 72.096.000 đồng là không đúng và ông không chấp nhận.
- Theo Biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, người làm chứng bà Đỗ Thị Mỹ C trình bày: Trưa ngày 21/9/2017, ông K và bà N có to tiếng, cãi vả với nhau. Một lúc sau bà N ra về, khi ra tới đầu ngõ thì ông K chạy theo đánh bà N, tiếp đó anh T vào đánh bà N và anh P cũng tham gia đánh bà N, có sử dụng mũ bảo hiểm để đánh. Thời gian bà N điều trị tại bệnh viện thì bà là người chăm sóc, khi đó bà đang làm thợ may nhận lương theo ngày, mỗi ngày 150.000 đồng. Trong thời gian chăm sóc bà N bà không đi làm được nên bị mất thu nhập.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Nhơn tỉnh Bình Đinh: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo qui định; vụ án thụ lý ngày 27/8/2018 đến ngày 08/8/2019 mới có quyết định đưa vụ án ra xét xử là vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử. Về nội dung vụ án: Bà N cũng có lỗi, lỗi của bà N được xác định là 1/3, không có căn cứ để xác định anh Đỗ Đình Mỹ P gây thiệt hại sức khỏe cho bà N. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà N, buộc ông Đỗ Đình K và anh Đỗ Đình Mỹ T liên đới bồi thường cho bà N. Cụ thể: Các chi phí có hóa đơn hợp lệ; tiền thu nhập bị mất của bà N và người chăm sóc trong thời gian điều trị tại bệnh viện, tiền bồi thường tổn thất tinh thần với mức 05 tháng lương cơ sở với tổng số tiền là 9.398.102 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Bị đơn ông Đỗ Đình K, anh Đỗ Đình Mỹ P, anh Đỗ Đình Mỹ T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên theo qui định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
Bị đơn ông K chỉ có mặt tại Tòa án một lần và có bản tự khai. Sau đó, ông K không đến Tòa án để làm việc theo giấy triệu tập, thông báo của Tòa án nữa. Anh P, anh T đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt và cũng không có văn bản ý kiến về các yêu cầu của bà N. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông K, anh P, anh T đều không chấp hành giấy triệu tập, thông báo, giấy báo phiên tòa của Tòa án là thể hiện ý thức thiếu tôn trọng pháp luật, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo qui định của pháp luật tố tụng dân sự. Lời khai của các đương sự có mâu thuẫn nhưng vì bị đơn không đến Tòa án nên không tiến hành đối chất được. Tòa án sẽ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo qui định của pháp luật.
Ngày 21/9/2017, giữa ông K, anh T và bà N có xảy ra mâu thuẫn, đánh nhau là đúng. Sự việc đã được Công an xã Hoài Đức lập biên bản lúc 12 giờ 22 phút ngày 21/9/2017. Ngày 22/01/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Nhơn có quyết định không khởi tố vụ án hình sự đối với Đỗ Đình K, Đỗ Đình Mỹ T và có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Đỗ Đình K và anh Đỗ Đình Mỹ T về hành vi đánh nhau.
Theo các tài liệu có trong quá trình điều tra của Công an huyện Hoài Nhơn, do Công an huyện Hoài Nhơn cung cấp: Tại các Bản tường thuật ngày 25/09/2017 và các Biên bản ghi lời khai ngày 09/11/2017, ngày 01/12/2017; ông K và anh T đều thừa nhận ông K đã tát vào vùng má phải của bà N, anh T xô ngã rồi dùng tay, chân đánh, đá nhiều cái vào người bà N. Tại Bản kết luận điều tra xác minh tin báo tội phạm ngày 22/01/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Nhơn kết luận: Ông K đã dùng tay phải tát 01 cái vào má trái của bà N, Đỗ Đình Mỹ T đã dùng chân, tay đánh, đá nhiều cái vào người bà N dẫn đến thương tích cho bà N. Tại Đơn xin yêu cầu ngày 15/9/2018 và Bản tự khai ngày 18/9/2018, ông K cũng thừa nhận có tát bà N và khai rằng anh T đã xô và đánh bà N. Theo Kết luận giám định pháp y về thương tích số 259/2017/PY-TgT ngày 13/12/2017 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế Bình Định thì thương tích của bà N là 4%. Như vậy, có đủ căn cứ để khẳng định, ông Đỗ Đình K và anh Đỗ Đình Mỹ T đã có hành vi xâm phạm sức khỏe của bà N.
Bà N cho rằng anh Đỗ Đình Mỹ P có đánh bà và yêu cầu anh P cùng bồi thường. Tuy nhiên, tại Bản tường thuật ngày 25/9/2017 của anh P, Biên bản xác minh vụ việc vi phạm hành chính ngày 25/9/2017 do Công an xã Hoài Đức lập anh P đều trình bày không đánh bà N. Ông K và anh T cũng khai là anh P không đánh bà N. Người làm chứng bà Đỗ Thị Mỹ C khai anh P có đánh bà N, tuy nhiên chỉ duy nhất một mình bà C chứng kiến. Mặt khác, lời trình bày của bà C tại Biên bản ghi nhận vụ việc ngày 21/9/2017 do Công an xã Hoài Đức không thể hiện có anh P đánh bà N nhưng các lời khai sau này lại có anh P đánh là có sự mâu thuẫn. Bà C và người đại diện hợp pháp của bà N cho rằng, khi lập biên bản đã yêu cầu Công an xã Hoài Đức ghi có tên anh P nhưng do Công an nói để ghi sau nên tin tưởng. Biên bản ghi nhận vụ việc ngày 21/9/2017 do Công an xã Hoài Đức lập đã hoàn thiện, có chữ ký của ông K, anh T và bà C cũng đã ký tên nên ý kiến của bà C và chị Hương về việc để ghi tên anh P vào biên bản sau là không hợp lý. Vì vậy, không đủ cơ sở để xác định lời khai làm chứng của bà C rằng ngày 21/9/2017 anh P đánh bà N là sự thật. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Nhơn cũng không thu thập được tài liệu, chứng cứ để chứng minh anh P đánh bà N. Do đó, không có đủ cơ sở để xác định anh Đỗ Đình Mỹ P đã có hành vi gây thiệt hại về sức khỏe cho bà N và không có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu của bà N buộc anh P phải bồi thường thiệt hại.
Bà N, bà C cho rằng cha con ông K đã dùng mũ bảo hiểm đánh bà N nhưng ông K, anh T đều không thừa nhận và cũng không có tài liệu, chứng cứ nào để xác định là đúng sự thật. Trong sự việc mâu thuẫn cãi vã, đánh nhau trưa ngày 21/9/2017, nguyên nhân dẫn đến việc ông K và anh T đánh bà N là do bà đã có lời nói chửi bới, xúc phạm ông K. Vì vậy, bà N cũng có một phần lỗi và phần lỗi của bà N được xác định là 1/3.
Theo Điều 584 của Bộ luật Dân sự qui định thì người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự,...của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Thời điểm có hành vi xâm phạm sức khỏe của bà N, anh T chưa đủ 18 tuổi nhưng đến nay anh đã trên 18 tuổi nên anh T phải tự bồi thường. Thiệt hại do sức khỏe của bà N bị xâm phạm gồm:
- Tiền thuốc điều trị có hóa đơn hợp lệ là 347.153 đồng.
- Thu nhập thực tế bị mất của bà N và của người chăm sóc trong thời gian nằm viện điều trị 21 ngày, từ ngày 21/9/2017 đến ngày 11/10/2017. Bà N và bà C là lao động tự do, thời gian điều trị không lao động được nên thu nhập bị mất là đúng, mức yêu cầu 150.000 đồng/ngày là phù hợp với mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương nên được chấp nhận. Như vậy, thu nhập thực tế bị mất được xác định như sau: 21 ngày x 150.000 đồng/ngày x 2 = 6.300.000 đồng.
- Bà N còn được bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần. Việc bà N yêu cầu bồi thường với mức 65.000.000 đồng là không có cơ sở nên chỉ chấp nhận một phần yêu cầu này của bà. Bà N được bồi thường một khoản tiền với mức 05 lần mức lương cơ sở do Nhà nước qui định là 05 x 1.490.000 đồng = 7.450.000 đồng.
Về khoản tiền xe 230.000 đồng và tiền chi phí khám mắt, điện não 70.000 đồng, không có hóa đơn chứng từ hợp lệ nên không được chấp nhận.
Ông K và anh T cùng gây ra thiệt hại cho sức khỏe của bà N với mức lỗi là 2/3. Do đó, ông K và anh T phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bà N với tổng số tiền 14.097.153 đồng x 2/3 = 9.398.102 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Nhơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông K và anh T phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà N với số tiền 9.398.102 đồng và bị đơn phải chịu án phí là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và đúng theo qui định của pháp luật.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên theo qui định tại điểm d khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị đơn ông K và anh T phải chịu án phí là 9.398.102 đồng x 5% = 469.900 đồng; bà N được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 584, 585, 586, 587, 590 của Bộ luật dân sự; điểm d khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án; tuyên xử:
1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị N. Buộc ông Đỗ Đình K và anh Đỗ Đình Mỹ T phải liên đới bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bà Đỗ Thị N với số tiền 9.398.102 đồng (Chín triệu ba trăm chín mươi tám nghìn một trăm lẻ hai đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2/ Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị N về việc: Yêu cầu anh Đỗ Đình Mỹ P phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm; yêu cầu bồi thường tiền xe, tiền khám mắt, điện não và khoản tiền bồi thường tổn thất về tinh thần 57.550.000 đồng.
3/ Về án phí sơ thẩm:
- Ông Đỗ Đình K và anh Đỗ Đình Mỹ T phải chịu 469.900 đồng (Bốn trăm sáu mươi chín nghìn chín trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà Đỗ Thị N được miễn án phí.
4/ Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
5/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Hoài Nhơn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hồng Hoàng |