- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hon giua Quyen - Phong"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 135/2018/HNGĐ-ST Ngày: 20-11-2018 V/v “Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Phƣớc Hải;
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng.
-
:
Nguyễn Thị Hải –
.
Ngày 20 tháng 11 tỉnh Bình Dƣơng, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 747/2018/TLST- HNGĐ ngày 19/9/2018 về việc “Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 142/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/11/2018, quyết định hoãn phiên tòa số 87/2018/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2018 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thúy Q, sinh năm 1990; địa chỉ: Số nhà 1081/64, đƣờng L, Tổ 57, Khu phố 8, phƣờng P, thành phố T, tỉnh B, (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoài P, sinh năm 1991; Số nhà 1081/64, đƣờng L, Tổ 57, Khu phố 8, phƣờng P, thành phố T, tỉnh B, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện nộp đến Tòa án ngày 05/9/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị Thúy Q trình bày:
Chị và anh Nguyễn Hoài P kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng P, thành phố T, tỉnh B theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 137, quyển số 02/2011 ngày 23/8/2011. Hôn nhân của chị và anh P hoàn toàn tự nguyện.
Sau khi kết hôn, chị và anh P chung sống với nhau không hạnh phúc thƣờng xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn và tranh chấp nguyên nhân là do anh P nhiều lần đánh chị và hăm dọa sẽ giết chị. Anh P đã từng dùng dao đâm chị gái của chị phải đi bệnh viện cấp cứu; anh P cũng đã vài lần đánh và dùng dao cứa để lại vết sẹo trên mặt chị, gần đây nhất là ngày 03/9/2018 anh P đã đánh và bóp cổ chị, hăm dọa đủ điều nên chị đã về nhà mẹ chị sinh sống. Với tính cách nhƣ vậy của anh P thì chị không thể nào tiếp tục sống chung đƣợc nữa. Chị và anh P đã sống ly thân với nhau. Hiện nay, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc, mâu thuẫn vợ chồng càng trầm trọng nên chị yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Hoài P.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị và anh P có 02 con chung tên Nguyễn Hoài Gia B, sinh ngày 29/01/2010 và Nguyễn Hoài Gia K, sinh ngày 06/8/2016. Chị Q yêu cầu đƣợc nuôi dƣỡng con chung, không yêu cầu anh P cấp dƣỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.
Chị Q
giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của người nộp đơn (bản chứng thực); giấy chứng nhận kết hôn (bản chứng thực); giấy khai sinh cháu Nguyễn Hoài Gia B (bản chứng thực); giấy khai sinh cháu Nguyễn Hoài Gia K (bản chứng thực); biên bản giao nhận ngày 04/9/2018 (bản chính).
* Bị đơn anh Nguyễn Hoài P trình bày: Thống nhất với phần trình bày của chị Q về thời gian kết hôn. Anh và chị Q kết hôn trên tinh thần tự nguyện.
Sau khi kết hôn giữa anh và chị Q cũng có mâu thuẫn nhƣng lý do là trong lúc anh nóng giận thì chị Q không nhịn mà còn cãi lại và anh cũng phát hiện chị Q có những tin nhắn lạ. Anh có đánh chị Q 03 lần, đúng là khi đánh anh có cầm dao nhƣng chỉ dọa chị Q, thực tế anh không bao giờ làm chuyện gì có hại. Anh cũng đã nói với chị Q là khi anh nóng thì đừng cãi, anh không thể kìm chế đƣợc nhƣng chị Q lại hay cãi, không nhƣờng anh. Chuyện anh đâm chị vợ anh là do lúc đó chị vợ anh dẫn vợ anh đi chơi với những ngƣời đàn ông khác, vì bực tức nên anh làm nhƣ vậy.
Ngày 02/9/2018, anh và chị Q phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do chị Q đòi dọn về nhà ba mẹ vợ sinh sống nhƣng anh không đồng ý, anh không cho nhƣng chị Q vẫn đi. Hiện nay, anh không đồng ý ly hôn với chị Q vì anh còn thƣơng vợ con.
Về con chung: Anh và chị Q có 02 con chung tên Nguyễn Hoài Gia B, sinh ngày 29/01/2010 và Nguyễn Hoài Gia K, sinh ngày 06/8/2016. Khi anh và chị Q vẫn còn hòa thuận, sinh sống cùng với nhau mà vẫn không đủ tiền nuôi con nên việc chị Q yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng cháu B và cháu K anh không đồng ý.
Trƣờng hợp Tòa án cho ly hôn với chị Q thì anh yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng cháu Nguyễn Hoài Gia K, sinh ngày 06/8/2016. Anh đồng ý giao cháu Nguyễn Hoài Gia B, sinh ngày 29/01/2010 cho chị Q trực tiếp nuôi dƣỡng.
Về cấp dƣỡng: Mỗi ngƣời nuôi dƣỡng một đứa con thì không ai cấp dƣỡng cho ai.
Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*
*
thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thƣ ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Đối với đƣơng sự: Do bị đơn anh Nguyễn Hoài P
.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợ
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thúy Q là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn cƣ trú tại phƣờng P, thành phố T, tỉnh B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh B theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; bị đơn anh Nguyễn Hoài P đã đƣợc triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên tòa nhƣng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Chị Trần Thị Thúy Q và anh Nguyễn Hoài P kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng P, thành phố T, tỉnh B theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 137, quyển số 02/2011 ngày 23/8/2011
[2.2] Theo chị Q khai: Mâu thuẫn vợ chồng xuất phát từ việc anh P nhiều lần đánh chị và hăm dọa sẽ giết chị. Anh P đã từng dùng dao đâm chị gái của chị phải đi bệnh viện cấp cứu; anh P cũng đã vài lần đánh và dùng dao cứa để lại vết sẹo trên mặt chị, gần đây nhất là ngày 03/9/2018 anh P đã đánh và bóp cổ chị, hăm dọa đủ điều nên chị đã về nhà mẹ chị sinh sống, chị đã nhiều lần khuyên nhƣng anh P không thay đổi nên chị không thể nào tiếp tục sống chung đƣợc nữa. Chị và anh P đã sống ly thân với nhau. Hiện nay, chị không còn tình cảm với anh P, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Hoài P. yêu thƣơng, tôn trọng, chăm giải quyết để xây dựng hạnh phúc gia đình. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh P thừa nhận có đánh chị Q, có dùng dao hăm dọa nhƣng ý kiến của anh cho rằng vì bản thân nóng tính, anh P yêu cầu chị Q phải nghe lời anh và khi anh nóng tính thì chị Q không đƣợc cãi lại. Nhƣ vậy, cuộc sống vợ chồng của anh P, chị Q có nhiều bất đồng trong cách cƣ xử, trong giao tiếp và không có sự nhƣờng nhịn lẫn nhau, do đó đã có việc anh P đánh chị Q và sử dụng dao để hăm dọa, bản thân chị Q
không còn tình cảm với anh P, vợ chồng không thể hàn gắn đƣợc nên cƣơng quyết yêu cầu ly hôn. Bản thân anh P không đồng ý ly hôn nhƣng lại không đƣa ra đƣợc phƣơng án để đoàn tụ gia đình, hàn gắn tình cảm và khi Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa thì anh P cũng không đến.
vợ chồng chị Q và anh P rất
của chị Q
.
[2.3] Về con chung: Chị Q và anh P có hai con chung là cháu Nguyễn Hoài Gia B, sinh ngày 29/01/2010 và Nguyễn Hoài Gia K, sinh ngày 06/8/2016. Chị Q yêu cầu đƣợc quyền trực tiếp nuôi con chung. Xét thấy: Qua làm việc nguyện vọng của cháu B muốn sống cùng chị Q, còn cháu K còn nhỏ và cả hai cháu đang sống cùng chị Q, để đảm bảo sự gần gũi tình cảm anh em của các cháu. Vì vậy, cần giao cháu B và cháu K cho chị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục là phù hợp.
- Anh P đƣợc quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai đƣợc cản trở. Trƣờng hợp anh P lạm dụng quyền thăm nom con để gây khó khăn, cản trở hoặc gây ảnh hƣởng xấu đến việc nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục con chung thì chị Q có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con, chăm sóc con chung theo quy định tại Khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
- Về cấp dƣỡng: Chị Q không yêu cầu anh P cấp dƣỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.
- Vì quyền và lợi ích hợp pháp của con chung chƣa thành niên là cháu Nguyễn Hoài Gia B và cháu Nguyễn Hoài Gia K, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con, mức cấp dƣỡng nuôi con theo quy định của pháp luật khi có yêu cầu.
[2.4]
Chị Q, anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[4] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Áp dụng các Điều 56, 57, 58, 69, 71, 81, 82, 83, 84, 85 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 do Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
*
chị Trần Thị Thúy Q
anh Nguyễn Hoài P về việc “Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
1/ Về quan hệ vợ chồng: Chị Trần Thị Thúy Q đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Hoài P.
số 137, quyển số 02/2011 ngày 23/8/2011 do Ủy ban nhân dân phƣờng P, thành phố T, tỉnh B cấp cho chị Trần Thị Thúy Q và anh Nguyễn Hoài P không còn giá trị pháp lý.
2/ Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoài Gia B, sinh ngày 29/01/2010 và Nguyễn Hoài Gia K, sinh ngày 06/8/2016 cho chị Trần Thị Thúy Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục.
- Anh P đƣợc quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai đƣợc cản trở. Trƣờng hợp anh P lạm dụng quyền thăm nom con để gây khó khăn, cản trở hoặc gây ảnh hƣởng xấu đến việc nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục con chung thì chị Q có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con, chăm sóc con chung theo quy định tại Khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về cấp dƣỡng: Chị Q không yêu cầu anh P cấp dƣỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.
- Vì quyền và lợi ích hợp pháp của con chung chƣa thành niên là cháu Nguyễn Hoài Gia B và Nguyễn Hoài Gia K, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con, mức cấp dƣỡng nuôi con theo quy định của pháp luật khi có yêu cầu.
Đƣơng sự k
ên không xem xét
.
4/ Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Thúy Q phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), đƣợc trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0022676 ngày 12/9/2018
.
Các đƣơng sự đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đƣơng sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận đƣợc Bản án hoặc đƣợc tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thủ Dầu Một; - Chi cục THADS thành phố Thủ Dầu Một; - UBND phƣờng P, TP.T. - Đƣơng sự; - Lƣu: Hồ sơ vụ án, VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hoa Hạnh |