vanban.org

Bản án 135/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 26/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN DU
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135/2017/HSST
Ngày 26/9/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễ n Trọ ng Trườ ng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Hánh

Bà Nguyễn Thị Xuân

Nhƣ̃ ng ngƣờ i tiế n hà nh tố tụ ng khá c tạ i phiên tò a:

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trầ n Văn Quang-Thẩ m tra viên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Mai Loan - Kiểm sát viên

Hôm nay, ngày 26 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyệ n Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 133/2017/TLST-HS ngà y 12/9/2017 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2017/HSST-QĐ ngà y 13/9/2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Đình L, sinh năm 1988

STQ: Thôn X, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh

Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do

Con ông Nguyễn Đình N, sinh năm 1950;

Con bà Đặng Thị B, sinh năm 1955;

Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba

Có vợ Nguyễn Thu H, sinh năm 1991;

Có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2016

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/6/2017 đến ngày 08/8/2017 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Hiện tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.

* Ngườ i bị hạ i: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1993 (vắ ng mặt)

HKTT: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

Chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh

NỘ I DUNG VỤ Á N

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 25/6/2017, tại phòng 202 quán Karaoke Th ở thôn B, xã H, huyện T, Nguyễn Đình L thấy chị Hoàng Thị H để chiếc điện thoại di động Iphone 6Plus đang cắm sạc pin trên mặt chiếc loa nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt. Khoảng 21 giờ L đi đến gần chiếc loa rồi rút điện thoại ra khỏi dây sạc pin, cất vào túi quần của mình. Sau đó L đi ra ngoài, sử dụng chiếc điện thoại Iphone 5s của mình gọi điện cho anh Nguyễn Văn T đến đón về. Một lúc sau anh T điều khiển xe máy Honda Airblade, BKS 99C1-255.52 đến, L liền mở cốp xe cất chiếc điện thoại của chị H vào cốp rồi về nhà. Trên đường về, L lấy chiếc điện thoại trong cốp xe ra tắt máy, tháo sim và ốp lưng điện thoại vứt đi. Ngày 26/6/2017 chị H đến Công an huyện Tiên Du trình báo. Do lo sợ nên hôm sau, L nhờ anh T mang chiếc điện thoại đến công ty đưa cho anh Đỗ Văn T để trả lại cho chị H. Cùng ngày, anh T đã mang chiếc điện thoại trên đến giao nộp cho cơ quan điều tra. Tại biên bản họp định giá và kết luận định giá tài sản ngày 28/6/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Tiên Du, kết luận: chiếc điện thoại di động Iphone 6 Plus loại 16 G đã qua sử dụng có giá trị còn lại là 7.000.000 đồng. Ngày 25/7/2017 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại trên cho chị H.

Vớ i nộ i dung trên , Cáo trạng số 98/CTr- VKS ngày 10/9/2017 của Viện kiể m sá t nh ân dân huyệ n Tiên Du , tỉnh Bắc Ninh đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tiên Du để xét xử bị cáo Nguyễn Đình L về tộ i “Trộ m cắ p tà i sả n” quy đị nh tạ i khoả n 1 Điề u 138 Bộ luậ t hì nh sự .

Tại phiên tòa hôm nay bị cá o L khai nhận: Trước đó bị cáo làm việc tại công ty TNHH SeojinVina nên ngày 25/6/2017 có tham gia liên hoan cùng công nhân công ty. Tối cùng ngày cả nhóm khoảng 20 người rủ nhau đến quán Karaoke Th ở thôn B, xã H, huyện T để hát. Lúc này bị cáo nhìn thấy chị Hoàng Thị H để chiếc điện thoại di động Iphone 6Plus trên mặt loa sạc pin nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt. Lợi dụng lúc mọi người đang hát và nhảy múa không ai để ý, bị cáo đã rút sạc pin và đút vào túi quần sau bên phải bị cáo đang mặc. Sau đó bị cáo gọi cho anh T đến đón bị cáo về. Mục đích bị cáo lấy chiếc điện thoại để sử dụng vì thấy điện thoại đẹp. Do lo sợ nên bị cáo đã nhờ người mang trả lại chị H chiếc điện thoại trên

Người bị hại chị H được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, lời trì nh bày tại cơ quan điều tra thể hiện : Tối ngày 25/6/2017 tại quán karaoke Th chị bị mất chiếc diện thoại di động Iphone 6 Plus. Ngày 25/7/2017, Cơ quan điều tra đã trả lại chị chiếc điện thoại trên. Sau khi nhận chiế c điệ n thoạ i, thiế u ố p lưng và sim card nhưng chị không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 98/CTr- VKS ngày 10/9/2017. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình L phạm tội “Trộ m cắ p tà i sả n”.

Căn cứ khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình L từ 8 tháng đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16tháng đến 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm

Về hì nh phạ t bổ sung : Xét tính chất , hành vi phạm tội của bị cáo không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về trách nhiệm dân sự : Không đề cậ p giả i quyế t

Về xử lý vậ t chứ ng : Áp dụng Điều 41 Bộ luậ t hì nh sự , Điề u 76 Bộ luậ t tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động Iphone 5s nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo sau khi nghe luận tội của đạ i diệ n Việ n kiể m sá t nhân dân huyện Tiên Du thừa nhận có tội, không tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hì nh phạ t

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬ N ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bả n thân. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời trình bày của người bị hại, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 25/06/2017, tại phòng 202 quán Karaoke Th ở thôn B, xã H, huyện T, bị cáo Nguyễn Đình L có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6Plus trị giá 7.000.000 đồng của chị Hoàng Thị H. Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộ m cắ p tà i sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoả n 1 Điề u 138 Bộ luật hình sự . Cáo trạng truy tố là đúng người, đú ng tộ i, đú ng phá p luậ t.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội , đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra còn gây mất trật tự trị an, hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân nơi xảy ra tội phạm. Do vậy cần á p dụ ng hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã thự c hiệ n mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự củ a bị cáo thì thấy: Bị cáo đã một lần bị kết án, ngày 12/5/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Phong xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tính đến nay đã được xóa án tích nên không coi tiền án . Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ kh ai bá o thà nh khẩ n , ăn năn hố i cả i về hà nh vi phạ m tộ i củ a bả n thân. Sau khi chiếm đoạt điện thoại bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã nhờ người mang trả lại tài sản cho người bị hại . Vì vậy bị cáo đượ c hưởng các tì nh tiế t giả m nhẹ trá ch nhiệ m hì nh sự quy đị nh tạ i điể m p khoả n 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Từ nhữ ng phân tí ch đá nh giá nêu trên xé t thấ y bị cá o thực hiện hành vi phạm tội do bột phát và chưa gây hậu quả nghiêm trọng. Bị cáo có n ơi cư trú rõ ràng,có khả năng tự cải tạo nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bị cáo đủ điều kiện để hưởng án treo. Vì vậy, không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo hưởng lượng khoan hồ ng của pháp luật, cải tạo tại địa phương cũng có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về hì nh phạ t bổ sung: Xét tính chất, hành vi phạm tội Hộ i đồ ng xé t xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Về trá ch nhiệ m dân sự : Người bị hại đã nhận lại chiếc điện thoại, thiếu chiếc ốp lưng và simcard nhưng không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vậ t chứ ng : Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 5s của bị cáo không liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội nên cần trả cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với chiếc xe máy Honda Airblade, BKS 99C1-255.52 là tài sản chung của vợ chồ ng bị cáo L, không liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của bị cáo nên ngày 05/09/2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du đã trả bị cáo chiếc xe máy kèm theo giấy đăng ký xe là phù hợp.

Liên quan trong vụ án có anh Nguyễn Văn T là người đi đón bị cáo sau khi bị cáo trộm cắp được chiếc điện thoại, sau đó mang chiếc điện thoại đem trả hộ bị cáo. Xét thấy anh T không biết bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cá o Nguyễn Đình L phạm tội “Trộ m cắ p tà i sả n”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điề u 60; Điề u 41 Bộ luật hình sự . Điề u 76; Điề u 99 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự ; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình L 8 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã L, huyệ n T , tỉnh Bắc Ninh giám sát , giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

3. Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động Iphone 5s màu trắng, bản 16 G, bên trong lắp simcard đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 9 năm 2017)

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Cỡ chữ