vanban.org

Bản án 135/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Huy N được ly hôn anh Nguyễn Thành L.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 30/9/2013 cho chị Nguyễn Thị Huy N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu H trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Thành L. Anh L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Huy N được ly hôn anh Nguyễn Thành L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TAND TỈNH KHÁNH HOÀ
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. NHA TRANG
Bản án số: 135/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 02/8/2017
V/v: "Ly hôn"
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Liễu
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Tiến Thành,
2. Bà Nguyễn Thị Tỉnh.
dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh - Kiểm sát viên.
Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số:
188/2017/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2017 về việc “Ly hôn” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2017/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2017,
Quyết định hoãn phiên tòa số 91/2017/QĐST-HNGĐ ngày 17/7/2017giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Huy N, sinh năm 1990
2. Bị đơn: Nguyễn Thành L, sinh năm 1989
Địa chỉ: 131/124 đường 2/4, phường Vạn Thắng, Nha Trang. Vắng mặt.
Ngày 02 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 15/02/2017, bản tự khai ngày 23/3/2017 và tại phiên tòa, nguyên đơn – chị Nguyễn Thị Huy N trình bày: Chị Nguyễn Thị Huy N và anh Nguyễn Thành L tự nguyện kết hôn với nhau năm 2012 tại Ủy ban nhân dân phường Vạn Thắng, thành phố Nha Trang. Trong cuộc sống chung hai bên xảy ra bất hòa do anh L thường xuyên đánh đập, có hành vi bạo lực gia đình với chị N. Khi chị N mang thai, anh L đánh chị N bị động thai. Đến khi sinh con được 6 tháng, chị N không chịu đựng nỗi cuộc sống bị đánh đập nên quyết định sống ly thân với anh L được ba năm.

Nay chị N nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với anh L được nữa vì mâu thuẫn đã kéo dài không thể hàn gắn được và cũng đã sống ly thân từ ba năm trước nên chị N yêu cầu Tòa án xem xét và giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Huy N và anh Nguyễn Thành L có 01 con chung là Nguyễn Minh H, sinh ngày 30/9/2013. Nay chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Minh H, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang đã tiến hành xác minh và thực hiện việc tống đạt và niêm yết nhiều lần theo quy định pháp luật nhưng anh Nguyễn Thành L vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Chị Nguyễn Thị Huy N và anh Nguyễn Thành L là vợ chồng, có đăng ký kết hôn và có địa chỉ cư trú tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Do trong cuộc sống vợ chồng chị N và anh L bất đồng quan điểm nên dẫn đến việc chị N xin ly hôn. Xét việc ly hôn của chị N là đúng pháp luật, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình và Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã thực hiện đúng theo trình tự tố tụng quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Trong đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đã tiến hành thủ tục xác minh tình trạng hôn nhân, nguyện vọng của vợ, chồng, con có liên quan đến vụ án đang giải quyết. Theo biên bản xác minh ngày 04/7/2017 tại Ủy ban nhân dân phường Vạn Thắng, thành phố Nha Trang cho thấy: Chính quyền địa phương không nắm được tình trạng hôn nhân của chị Nguyễn Thị Huy N và anh Nguyễn Thành L vì không ai trình báo về vấn đề này. Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân phường Vạn Thắng, thành phố Nha Trang biết được chị N đã về sinh sống với ba mẹ ruột tại phường Phương Sơn, Nha Trang, không còn sống chung cùng với anh L.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Thành L vắng mặt nhiều lần không có lý do. Tòa án tiến hành niêm yết công khai tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, Ủy ban nhân dân phường Vạn Thắng, thành phố Nha Trang và tại địa chỉ nơi ở của anh Nguyễn Thành L số 131/124 đường 2/4 phường Vạn Thắng, Nha Trang theo Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, anh Nguyễn Thành L vắng mặt lần thứ hai không có lý do, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh L theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Huy N và anh Nguyễn Thành L kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Vạn Thắng, thành phố Nha Trang (theo giấy chứng nhận kết hôn số 58/2012 cấp ngày 24/7/2012). Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Theo lời khai của chị N cho thấy vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do cuộc sống bất đồng về quan điểm từ đó xảy ra kình cãi và mâu thuẫn kéo dài và ngày càng trầm trọng, chị N nhận thấy không thể tiếp tục chung sống nên đã ly thân từ ba năm trước. Hội đồng xét xử thấy rằng cuộc sống chung của chị N và anh L có nhiều mâu thuẫn, không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, yêu cầu xin ly hôn của chị N là có cơ sở và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Huy N xác nhận có 01 con chung là Nguyễn Minh H, sinh ngày 30/9/2013. Nay chị N yêu cầu trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Minh H không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng từ trước đến nay cháu H được chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục ổn định, đảm bảo cho cháu phát triển toàn diện về thể chấp và tinh thần, do đó cần tiếp tục giao cho chị N chăm sóc, giáo dục cháu Huy là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con chị N không yêu cầu nên hội đồng xét xử không xem xét. Anh L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn; giao con chung là cháu Nguyễn Minh H cho chị Nguyễn Thị Huy N trực tiếp nuôi dưỡng, về cấp dưỡng và tài sản chung chị N không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ các Điều 28, 35, 147, 227 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Huy N được ly hôn anh Nguyễn Thành L.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 30/9/2013 cho chị Nguyễn Thị Huy N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu H trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Thành L.

Anh L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Án phí: Chị Nguyễn Thị Huy N phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0006159 ngày 07/3/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Chị N đã nộp đủ án phí.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. * Nơi nhận:

Cỡ chữ