- Tranh chấp gì? án dân sự — "Dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Hữu K về việc tranh chấp “Hợp đồng mua bán” đối với chị Cao Thị Ánh X.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:135 /2017/DS-ST Ngày: 28-7-2017. V/v tranh chấp “Hợp đồng mua bán” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Bình An.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Ghên
2. Bà Trương Thị Kim Tiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Trong ngày 28 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 312/2017/TLST-DS ngày 09 tháng 6 năm 2017 về tranh chấp “Hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 205/2017/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Ngô Hữu K, sinh năm 1983.
Địa chỉ: KP 6, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
2. Bị đơn: Chị Cao Thị Ánh X, sinh năm: 1963. ( xin vắng mặt)
Địa chỉ: Khu vực H, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 6 năm 2017 và các lời khai của anh Ngô Hữu K trình bày như sau:
Vào ngày 27/01/2015, anh có bán cho chị Cao Thị Ánh X 01 bàn ghế kiếng và 01 tủ áo tổng số tiền 10.100.000đ, khi bán có làm hợp đồng mua bán hàng trả góp, anh và chị X có thỏa thuận, anh cho chị X trả góp mỗi tháng 1.000.000đ. Tuy nhiên chị X thực hiện đến ngày 27 tháng 6 năm 2016 là 4.000.000đ còn lại 6.100.000đ thì ngưng cho đến nay. Mặc dù anh có đến đòi nhiều lần nhưng chị X không trả.
Nay anh yêu cầu chị X phải có trách nhiệm trả cho anh số tiền 6.100.000đ. Ngoài ra anh không yêu cầu gì khác.
Tại bản tự khai của chị Cao Thị Ánh X; Chị xác nhận vào năm 2015 chị có mua 01 bàn ghế kiếng và 01 tủ áo tổng số tiền 10.100.000đ, có làm hợp đồng mua bán hàng trả góp, chị đã thanh toán cho anh K tổng số tiền 4.000.000đ, hiện nay chị còn nợ anh K số tiền 6.100.000đ đến nay chưa thanh toán.
Nay anh K yêu cầu chị trả số tiền 6.100.000đ chị đồng ý, nhưng chị xin trả dần mỗi tháng 500.000đ, vì hiện nay hoàn cảnh quá khó khăn. Do điều kiện không đến tòa án để giải quyết được, chị xin hòa giải và xét xử vắng mặt.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý và các thủ tục theo pháp luật quy định, nhưng chị Cao Thị Ánh X xin vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Hữu K đối với chị Cao Thị Ánh X. Hội đồng xét thấy quan hệ pháp luật cần giải quyết là: Tranh chấp “Hợp đồng mua bán”, Anh Ngô Hữu K có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự (TTDS); vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa theo quy định tại Điều 26, 35 Bộ luật TTDS. Đối với chị Cao Thị Ánh X, tại bản tự khai chị X thừa nhận còn nợ anh K số tiền 6.100.000đ và đồng ý trả nhưng xin trả dần, đồng thời có đơn xin hòa giải và xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị X là phù hợp.
Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của anh Ngô Hữu K tại phiên tòa, thấy rằng giữa anh Ngô Hữu K và chị Cao Thị Ánh X có ký hợp đồng mua bán hàng trả góp vào ngày 27 tháng 01 năm 2015. Nhưng không có chứng thực.
Sau khi ký hợp đồng chị X đã trả góp cho anh K nhiều lần tổng cộng là 4.000.000đ, đến ngày 27/6/2016 thì chị X không thanh toán nữa. Mặc dù anh K có đòi nhiều nhần nhưng chị X không thực hiện. Đến ngày 16 tháng 3 năm 2017 chị X tiếp tục làm giấy nhận nợ số tiền 6.100.000đ, nhưng xin trả dần mỗi tháng 500.000đ nhưng chị X cũng không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho anh K.
Tại phiên tòa hôm nay chị X xin vắng mặt, nhưng tại bản tự khai chị X đồng ý trả cho anh K số tiền 6.100.000đ, nhưng xin trả dần mỗi tháng 500.000đ việc này không được anh K đồng ý, bởi vì chị X nợ anh K đã lâu nhưng chị X không có thiện chí thanh toán số nợ trên cho anh K, để đảm bảo quyền lợi của anh Ngô Hữu K. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh K, cần buộc chị X có trách nhiệm trả cho anh K số tiền 6.100.000đ là có căn cứ.
Tại phiên tòa hôm nay anh K không yêu cầu tính lãi suất nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.
Trong vụ án này chị X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 26, 35, 186, 273, 147 Điều 227 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 430, 440, 357 Bộ luật dân sự;
Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Hữu K về việc tranh chấp “Hợp đồng mua bán” đối với chị Cao Thị Ánh X.
Buộc chị Cao Thị Ánh X có trách trả cho anh Ngô Hữu K số tiền 6.100.000đồng sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án, người có nghĩa vụ trả tiền nếu chậm trả thì phải trả thêm tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 357 BLDS tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Án phí: Chị Cao Thị Ánh X phải chịu 305.000đồng án phí DSST sung Ngân sách Nhà nước.
Hoàn lại cho anh Ngô Hữu K số tiền 300.000đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0000673 ngày 08 tháng 6 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.
Anh K có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Cao Thị Ánh X được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKSND huyện Đức Hòa;
(Đã ký)
- TAND tỉnh Long An;
- Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
- Lưu hồ sơ, án văn.
Đỗ Bình An THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Bình An Nguyễn Văn Ghên – Trƣơng Thị Kim Tiến
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Đức Hòa; - TAND tỉnh Long An; - Chi cục THADS huyện Đức Hòa; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Bình An |