- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Nguyễn Trường L.
- Căn cứ chính? Luật Thi hành án dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1346/2022/HNGĐ-ST Ngày: 19-8-2022 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Duyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Châu.
2. Ông Nguyễn Thành Thông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Nguyễn Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 19 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 266/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4343/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Nguyễn Trường L, sinh năm 1991.
Địa chỉ: T4-A03.10, Đường A, phường B, thành phố C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Bà Võ Thị Minh T (Vo, T Minh Thi), sinh năm 1989.
Quốc tịch: Hoa Kỳ.
Địa chỉ: 5415 X Y CA 93727 USA.
Các đương sự đã có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18/5/2022 và những lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là ông Trần Nguyễn Trường L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Võ Thị Minh T (Vo, T Minh Thi) kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 05 ngày 05/01/2017. Sau khi kết hôn, thời gian đầu ông và bà T sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm, lối sống hàng ngày. Đầu năm 2018, bà Võ Thị Minh T (Vo, T Minh Thi) trở về Mỹ sinh sống và làm việc, còn ông vẫn ở lại Việt Nam. Trong khoảng thời gian này, ông và bà T thỉnh thoảng có liên lạc để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Do không có điều kiện gặp nhau để hàn gắn tình cảm nên tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không giải quyết được, khả năng đoàn tụ lại không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông đề nghị được ly hôn với bà Võ Thị Minh T (Vo, T Minh Thi) để ổn định cuộc sống. Về con chung: Không có. Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có. Vì bận việc, ông yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án. Tại Bản tự khai đã được chứng nhận tại Tổng Lãnh sự quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại San Francisco, Hoa Kỳ ngày 13/7/2022, bị đơn là bà Võ Thị Minh T (Vo, T Minh Thi) xác nhận lời trình bày của ông Trần Nguyễn Trường L về thời điểm kết hôn, về mâu thuẫn chung của vợ chồng, về con chung, tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung là đúng. Nay ông L xin ly hôn, bà đồng ý được ly hôn với ông L. Do điều kiện đi lại gặp nhiều khó khăn, ông yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông Trần Nguyễn Trường L và bà Võ Thị Minh T (Vo, T Minh Thi) kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Căn cứ theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa bà Ngân và ông Lực là hôn nhân hợp pháp. Nguyên đơn cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh; Bị đơn hiện cư trú tại nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét bản tự khai của bà Võ Thị Minh T (Vo, T Minh Thi) đã được chứng nhận của Tổng Lãnh sự quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại tại San Francisco, Hoa Kỳ ngày 13/7/2022 nên được xem là chứng cứ hợp pháp của vụ án theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết, yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được quye định tại Khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của ông Trần Nguyễn Trường L được ly hôn bà Võ Thị Minh T (Vo, T Minh Thi) Hội đồng xét xử xét thấy: Qua lời trình bày của ông L và bà Võ Thị Minh T (Vo, T Minh Thi), thì thực tế sau khi kết hôn hai bên phát sinh mâu thuẫn không thể giải quyết được. Từ khi kết hôn cho đến nay, ông L và bà Võ Thị Minh T (Vo, T Minh Thi) không có quá trình chung sống lâu dài, do xa cách địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, hai bên chưa có sự gắn kết sâu đậm về tình cảm vợ chồng. Hiện nay ông L và bà Võ Thị Minh T (Vo, T Minh Thi) đang sinh sống ở hai nước khác nhau nên khả năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, ông L yêu cầu được ly hôn với bà Võ Thị Minh T (Vo, T Minh Thi) là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Ông Trần Nguyễn Trường L và bà Võ Thị Minh T (Vo, T Minh Thi) khai không có.
Án phí sơ thẩm:
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm ông Trần Nguyễn Trường L phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Ông Trần Nguyễn Trường L và bà Võ Thị Minh T (Vo, T Minh Thi) có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Nguyễn Trường L.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Nguyễn Trường L được ly hôn bà Võ Thị Minh T (Vo, T Minh Thi).
Giấy chứng nhận kết hôn số 05 do Ủy ban nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/01/2017 cho ông Trần Nguyễn Trường L và bà Võ Thị Minh T (Vo, T Minh Thi) không còn giá trị pháp lý.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, ông Trần Nguyễn Trường L chịu và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà ông L đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2021/0002360 ngày 06/6/2022 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông L đã nộp đủ tiền án phí.
3. Ông Trần Nguyễn Trường L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. Bà Võ Thị Minh T (Vo, T Minh Thi) được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - Cục THADS TP.HCM; - UBND quận G, TP.HCM; - Các đương sự; - Lưu: HS, VT.(Linh/16b) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Bích Duyên |