vanban.org

Bản án 1343/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân:

Cho ly hôn giữa bà Vũ Thị Phương Th và ông Trần Hoài M. Về con chung: Giao bà Th trực tiếp nuôi con chung tên Trần Ngọc Cát T, sinh ngày 13/8/2018. Bà Th không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1343/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29-9-2023.
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Túy Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Phước Trinh

2. Bà Phạm Thị Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên toà: Không.

Trong ngày 29 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 659/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 492/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 398/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Phương Th, sinh năm 1987

Địa chỉ: Số 1C/3B, đường A, Tổ 39, phường TMT, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

2. Bị đơn: Ông Trần Hoài M, sinh năm 1986

Địa chỉ: Số 57, đường số 106, Tổ 10, Ấp C, xã TTĐ, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn ghi ngày 09 tháng 5 năm 2023, tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn Vũ Thị Phương Th trình bày như sau:

Bà và ông M có tìm hiểu nhau và tiến đến hôn nhân vào năm 2018, cả hai tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 78/2018 ngày 03/4/2018.

Thời gian đầu chung sống, vợ chồng hạnh phúc. Đến năm 2022, vợ chồng bà xảy ra nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống, thường xuyên gây gỗ nhau về vấn đề tiền bạc, tính tình ngày càng không hợp do ông M không chăm lo cho cuộc sống gia đình và con cái. Bà cũng nhiều lần cố gắng khắc phục mâu thuẫn nhưng tình trạng bất hòa vẫn tiếp diễn. Ông M có hứa sẽ thay đổi tuy nhiên những bất đồng vẫn không cải thiện được. Từ cuối năm 2022, ông M dọn về nhà cha mẹ ruột tại xã Tân Thanh Đông, huyện Củ Chi để sinh sống cho đến nay. Vợ chồng từ đó sống ly thân, không còn quan tâm lẫn nhau nữa. Bà nhận thấy cuộc hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt nên bà xin ly hôn với ông M.

Về con chung: Bà và ông M có 01 con chung tên Trần Ngọc Cát T, sinh ngày 13/8/2018, con đang sinh sống cùng bà nên bà xin trực tiếp nuôi con chung. Bà có công việc ổn định thu nhập hàng tháng trung bình khoảng 13.000.000đ (Mười ba triệu đồng), đủ khả năng để nuôi con nên bà không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà xác định không có.

Bị đơn ông Trần Hoài M đã được Toà án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ 02 mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Căn cứ đơn xin ly hôn ghi ngày 09 tháng 5 năm 2023, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là tranh chấp ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Bị đơn ông Trần Hoài M có nơi cư trú tại xã TTĐ, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi.

Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

. Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Th:

Bà Th và ông M có tìm hiểu nhau và tiến đến hôn nhân vào năm 2018, cả hai tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 78/2018 ngày 03/4/2018, nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét mâu thuẫn phát sinh: Bà Th trình bày, năm 2022, vợ chồng bà xảy ra nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống, thường xuyên gây gỗ nhau về vấn đề tiền bạc, tính tình ngày càng không hợp do ông M không chăm lo cho cuộc sống gia đình và con cái. Bà cũng nhiều lần cố gắng khắc phục mâu thuẫn nhưng tình trạng bất hòa vẫn tiếp diễn. Ông M có hứa sẽ thay đổi tuy nhiên những bất đồng vẫn không cải thiện được. Từ cuối năm 2022, ông M dọn về nhà cha mẹ ruột tại xã Tân Thanh Đông, huyện Củ Chi để sinh sống cho đến nay. Vợ chồng từ đó sống ly thân, không còn quan tâm lẫn nhau nữa.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để tạo điều kiện cho các đương sự hàn gắn tình cảm, đồng thời giải quyết các mâu thuẫn phát sinh. Tuy nhiên, bị đơn ông M vắng mặt, không gửi văn bản trình bày ý kiến của ông đối với vụ kiện. Qua đó đã thể hiện ông M không có nguyện vọng đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng. Đồng thời, bà Th xác định bà và ông M đã sống ly thân từ cuối năm 2022. Xét thấy, bà Th và ông M không còn tạo điều kiện cho nhau để thực hiện quyền, nghĩa vụ vợ chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn kéo dài, đời sống chung trên thực tế không còn tồn tại. Do vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở.

. Về con chung: Bà Th và ông M có 01 con chung tên Trần Ngọc Cát T, sinh ngày 13/8/2018, bà Th xin trực tiếp nuôi con chung. Do ông M vắng mặt nên không thể hiện ý kiến của ông M đối với vấn đề con chung. Bà Th có công việc ổn định, có khả năng về kinh tế để chăm lo cho con. Bên cạnh đó, cháu T cũng đang sinh sống cùng bà Th, nhằm tạo điều kiện để cháu T phát triển bình thường cũng như đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu T, Hội đồng xét xử xét căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu T cho bà Th trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Th không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà Th không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 và khoản 2 Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng con chung.

Ông M có quyền, nghĩa vụ thăm nom, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

. Về tài sản chung: Bà Th xác định không có. Về nợ chung: Bà Th xác định không có. Bà Th không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp. Bị đơn ông M vắng mặt tại phiên tòa, nếu có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ được giải quyết bằng vụ kiện khác.

. Về án phí sơ thẩm:

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự , Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo quy định là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117, 118, 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

1. Về quan hệ hôn nhân:

Cho ly hôn giữa bà Vũ Thị Phương Th và ông Trần Hoài M.

2. Về con chung: Giao bà Th trực tiếp nuôi con chung tên Trần Ngọc Cát T, sinh ngày 13/8/2018. Bà Th không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 và khoản 2 Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng con chung.

Ông M có quyền, nghĩa vụ thăm nom, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

3. Về tài sản chung: Bà Th xác định không có. Về nợ chung: Bà Th xác định không có. Do ông M vắng mặt, nếu ông M có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ kiện khác.

4. Về án phí:

- Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà Th phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Th đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0017542 ngày 30 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi. Bà Th đã nộp đủ tiền án phí.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

5. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ