- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quốc T phạm tội giết người - giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Giết người”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 134/2026/HS-ST Ngày: 25-6-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Kiều Lương
Thẩm phán:
Ông Nguyễn Xuân Quang
Hội thẩm nhân dân
Bà Nguyễn Thị Lý
Ông Bùi Tấn Đô
Ông Hoàng Minh Liêm
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Kỳ Anh - Thư ký Tòa án nhân Thành phố Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Thân Văn Chẻo – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Nai tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 148/2026/TLST-HS 05/6/2026, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2026/QĐXX-ST ngày10/6/2026, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Quốc T; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 29 tháng 3 năm 1995, tại Cần Thơ; CCCD số 093095006982, cấp ngày 16/3/2015 nơi cấp: Cục C về TTXH Bộ C1.
Nơi thường trú: T, xã T, thành phố Cần Thơ; nơi cư trú: phố A, phường C, Thành phố Đ.
Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinhtôn giáo: Khôngquốc tịch: Việt Namcon ông Trần Văn T1, sinh năm 1960 (đã chết) và con bà Trần Thị L, sinh năm 1968 (đã chết); gia đình bị cáo có 04 người; Bị cáo là người con lớn nhất trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ con,
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 07/5/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Đ.
Bào chữa cho bị cáo theo quy định: có Luật sư Trần Minh Đ, thuộc Công ty TNHH T3, Đoàn sư Thành phố Đ.
Bị hại: Đặng Quang H, sinh năm 1997
Nơi thường trú: Tổ A, Ấp X, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bị cáo, bị hại, Luật sư bào chữa cho bị cáo có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính: Trần Quốc T và em trai là Trần Văn T2 (B) cùng Đặng Quang H1 và anh trai là Đặng Quang H cùng làm công nhân tại Xưởng gỗ “Kiều My” tại khu phố M, phường M, thành phố Đ do bà Sơn Thị Hồng H2 làm chủ. Do chị Trương Thị Cẩm G có quan hệ tình cảm với Đặng Quang H1 nên ngày 29/12/2024, H1 chở G đi chơi. Sau đó, chị Diệu H3 là chị gái của G đến Xưởng gỗ Kiều M để tìm G nhưng không gặp. Chị Diệu H3 gặp Trần Quốc T và nói chuyện với T về việc G và Đặng Quang H1. Lúc này, T gọi điện thoại cho Đặng Quang H và nói H nói với Đặng Quang H1 đưa G về lại xưởng gỗ. H nói không biết H1 và G đi đâu. Vì vậy, giữa T và H xảy ra mâu thuẫn cãi nhau và T bực tức nên có ý định đánh H.
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 31/12/2024, H và Đặng Quang H1, T và T2 đang làm việc tại xưởng gỗ K. Do T bực tức về việc bị H chửi qua điện thoại trước đó nên khi thấy H đang đứng cưa ở bàn cưa số E, T đi từ bàn cưa số 6 sang lấy 01 đoạn cây gỗ rồi lao đến đánh H. H dùng tay trái đỡ, tay phải H đang cầm cây gỗ đang cưa đánh lại T nhưng T đỡ được rồi H và T lao vào đánh nhau bằng tay không. Thấy T và H đánh nhau, Đặng Quang H1 đang đứng cùng H cũng lao đến đánh T. Lúc này, T2 đang đứng ở bàn cưa số 6 cũng lấy 01 cây gậy bằng kim loại dài 73cm, đường kính 04cm (dùng để tăng lưỡi cưa) đến kẹp cổ H1. Sau đó, T và H vật nhau đánh bằng tay không, còn H1 và T2 cũng vật nhau đánh bằng tay không ở nền xưởng cưa. Sau đó, công nhân trong xưởng gỗ đến can ngăn nên T, H, H1, T2 không nhau nữa.
Tý bực tức vì bị H1 đấm vào mắt nên đi về phòng trọ dành cho công nhân trong xưởng lấy 01 con dao (loại dao chặt, dài 40cm, phần lưỡi dao dài khoảng 30cm) mục đích đi vào lại xưởng để đánh nhau với H và H1. T cũng về phòng trọ của T lấy cây rồi đi vào xưởng mục đích để đánh nhau với H1 và H.
Cùng lúc này, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda FUTURE, màu xanh, biển số 94AH-096.43 chở H1 đi hướng ra cổng để tìm đánh T. Trước khi lên xe H1 cầm theo 01 gậy bằng kim loại dài 65cm, đường kính 4cm (dùng để tăng lưỡi cưa) để làm hung khí khi xảy ra đánh nhau. H điều khiển xe chở H1 theo hướng từ trong xưởng cưa đi ra ngoài cổng, khi đi qua đoạn đường cua trong xưởng thì gặp T2 đang cầm con dao trên tay phải đi hướng từ ngoài vào xưởng, T2 đứng phía bên phải hướng H và H1 chạy ra, T2 dùng dao chém H1 nhưng bị H1 dùng cây tuýp sắt đỡ được nên không trúng. H và H1 tiếp tục chạy xe hướng ra cổng. Lúc này, T cũng đang đi hướng vào xưởng trên tay cầm 01 cây gậy bằng kim loại. T thấy H và H1 chạy xe ra nên đứng chờ (cách vị trí T2 đứng khoảng 100m). Khi H1 và H chạy xe mô tô tới vị trí T đang đứng thì T dùng hai tay cầm cây gậy bằng kim loại đánh mạnh vào H tầm ngang mặt, trúng vào vùng cằm của H, cùng lúc H1 ngồi sau xe mô tô dùng tay phải cầm cây gậy bằng kim loại đánh mạnh theo hướng từ trên xuống, trúng vùng trán của T. H bị T đánh trúng vùng mặt thì H ngã xuống đường bất tỉnh, cằm, miệng và vùng đầu chảy nhiều máu, còn T bị móp vùng giữa trán. Sau đó, H và T được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Quốc T và Đặng Quang H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của Trần Quốc T và Đặng Quang H1 phù hợp với tài liệu, chứng cứ điều tra thu thập được.
2. Giám định và Kết luận giám định:
Kết luận giám định tổn thương trên người sống số 88/KLTTCT-TTPY ngày 27/3/2025 của Trung tâm Pháp y Sở tế tỉnh B (nay là thành phố Đ), kết luận: Căn cứ tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đặng Quang H tại thời điểm giám định là: 14% (Mười bốn phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Kết luận giám định bổ sung cơ chế hình thành thương tích số 179/KLVGTT-TTPY ngày 04/6/2025 Trung tâm Pháp y tế tỉnh B (nay là Thành phố Đ) kết luận: Các thương tích của Đặng Quang H có đặc điểm của tổn thương do vật tày cứng (có thể có cạnh) tác động theo hướng từ trước ra sau. Tại thời điểm nhập viện thương tích "Gãy xương hàm dưới vùng cằm" và "Gãy ngành lên xương hàm dưới bên trái" của Đặng Quang H nếu không được cấp cứu, điều trị kịp thời có thể không dẫn đến tử vong.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: ngày 14/5/2025 của Trung tâm Pháp y Sở tế tỉnh B (nay là Thành phố Đ), kết luận thương tích của Trần Quốc T: 02 sẹo trán lệch phải kích thước (2,5 x 0,2cm và (9 x 0,2cm (H1), vỡ lún lõm sọ trán phải kích thước (3,5 x 1,8)cm, gãy xoang trán phải (H2), dập não trán phải đường kính (1,8 x 2,5)cm (H3), gãy thành trước - ngoài xoang hàm phải (H4) (H5), tụ máu ngoài màng cứng hiện tại không còn dấu vết. Căn cứ tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thân, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Quốc T tại thời điểm giám định là: 54% (Năm mươi tư phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Kết luận giám định bổ sung cơ chế hành thành thương tích số 180/KLCCHTTT-TTPY ngày 25/6/2025 Trung tâm Pháp y tế tỉnh B kết luận: Các thương tích: "Vỡ lún lõm sọ trán phải kích thước (3,5 x 1,8cm; gãy xoang trán phải; dập não trán phải đường kính (1,8 x 2,5cm; gãy thành trước - ngoài xoang hàm phải; tụ máu ngoài màng cứng hiện tại không còn dấu vết" của Trần Quốc T nếu không được cấp cứu kịp thời có thể không dẫn đến tử vong.
Kết luận giám định số: 1216/KL-KTHS ngày 20/03/2026 của Phòng thuật hình sự Công an tỉnh Đ, kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 05 (năm) tập tin video cần giám định ký hiệu từ A1 đến A5.
3. Tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: 01 (một) đôi dép màu đen xanh (dép loại quai kẹp) có in chữ "banana" xanh; 02 (hai) thanh gỗ bị gãy, dấu vết gãy còn mới, thanh gỗ thứ nhất dài 38cm, rộng 2,5cm, thanh gỗ thứ hai có kích thước 28cm, rộng 2cm; 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future, màu xanh đen, biển số 94AH-096.43; 01 (Một) thanh kim loại (dạng ống tròn) đường kính 4cm, dài 65cm, qua tra phát hiện thanh kim loại bị móp một đầu; 01 (Một) thanh kim loại (dạng ống tròn) đường kính 3,5cm, dài 100cm, qua kiểm tra phát hiện thanh kim loại bị cong một đầu; 05 (Năm) đoạn video ghi từ camera ghi hình tại Công ty gỗ "Kiều My" được lưu trữ trong 01 (Một) USB nhãn hiệu Toshiba, màu Trắng, loại 16G; 01 (Một) con dao (loại dao chặt, dài 40cm, phần lưỡi dao dài khoảng 30cm, màu đen, có đầu vất nhọn, phần cán dạo dài khoảng 10cm, được làm bằng gỗ, màu xám) và 01 (Một) cây gậy bằng kim loại dài 73 cm, đường kính 04cm (đã được xử lý tại vụ án Đặng Quang H1).
Xử lý vật chứng: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future, màu xanh đen, biển số 94AH-096.43. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Võ Kim N. Cơ quan điều tra đã trả xe mô tô cho chị Võ Kim N.
4. Về trách nhiệm dân sự: Qua quá trình điều tra, người đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Quốc T đã tự nguyện bồi thường thiệt hại thương tích gây ra cho Đặng Quang H với số tiền bồi thường là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) và các bên không có yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.
5. Truy tố: Cáo trạng số 134/CT-VKSNDI-P2 ngày 03/6/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Nai đã truy tố bị cáo Trần Quốc T về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
6. Ý kiến của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo xác định tất cả lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc hay bức cung. Kết luận điều tra cũng như bản trạng truy tố bị cáo ra trước Tòa về tội người” theo khoản 1 Điều 123 là phù hợp với hành vi của bị cáo đã thực hiện, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
7. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Nai tại phiên tòa:
7.1. Về tội danh, trách nhiệm hình sự, quan điểm truy tố và điều luật áp dụng:
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý đối với vụ án và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Quốc T về người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, đã bồi thường được 10.000.000 đồng chi điều trị thương tích cho bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
7.2. Điều luật áp dụng và mức án đề nghị: Áp dụng n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 15 và Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Quốc T mức án từ 08 (tám) đến 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2025.
7.3. Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý trong vụ án Đặng Quang H1 nên không xem xét.
7.4. Về bồi thường dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
7.5. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
8. Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo theo quy định của pháp luật trình bày tại phiên tòa: Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên hành vi của bị cáo thực hiện không mang đồ quy định tại n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng quy kết. Trong quá trình điều tra bị cáo cũng đã thừa nhận hành vi của mình, trong vụ án này bị hại có một lỗi. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: bị cáo đã ăn năn, hối cải, thành thật khai báo, thuộc thành phần lao động, có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo cùng gia đình đã bồi thường điều trị thương tích cho bị hại, đề nghị Hội xét xử xem xét giảm nhẹ và có phán quyết công bằng, phù hợp với quy định của pháp luật áp dụng cho bị cáo mức hình phạt phù hợp với hành vi sai phạm của bị cáo, mang tính giáo dục hơn là hình phạt để bị cáo có cơ hội cống hiến cho gia đình bị cáo và xã hội nói chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ, quyền được bào chữa và tự bào chữa của bị cáo, bị hại được bảo đảm, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.
Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ, như kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống cùng các chứng cứ khác đặc biệt là lời khai nhận tội của bị cáo chính là chứng cứ có giá trị quyết định tạo thành mối quan hệ nhân quả đã đủ cơ sở xác định hành vi phạm tội của bị cáo như Cáo trạng truy tố mô tả được thể hiện như sau: Vào ngày 31/12/2024, tại Xưởng gỗ “Kiều My” tại khu phố M, phường M, thành phố Đ, sau khi đánh nhau bằng tay không cùng với Đặng Quang H trong xưởng và đã được mọi người trong xưởng can ngăn, T và H chỉ bị trầy xước ngoài da, không có thương tích gì. Do bực tức vì bị H đánh nên bị cáo vẫn có ý định tiếp tục đánh H. Bị cáo đi bộ về khu vực dãy phòng trọ của xưởng gỗ mục đích tìm hung khí để quay lại đánh H. Khi bị cáo đã đi về khu vực trước dãy phòng trọ lấy 01 cây gậy bằng kim loại dài 100cm, đường kính 3,5cm, thấy H điều khiển xe mô tô chở Đặng Quang H1 chạy hướng ra ngoài xưởng, T đã chủ động cầm cây tuýp sắt chạy sang phía bên phải hướng H điều khiển xe đi ra, khi H điều khiển xe đến chỗ bị cáo đang đứng chờ, bị cáo T đã dùng hai tay cầm cây gậy bằng kim loại đánh mạnh vào vùng mặt, trúng vùng cằm của H làm H bị bất tỉnh và té xe xuống mặt đường, hậu quả Đặng Quang H bị gãy xương hàm dưới vùng cằm, gãy ngành lên xương hàm dưới bên trái, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 14%.
Hành vi của Trần Quốc T thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội "Giết người" quy định tại khoản 1 Điều 123 và Điều 15 Bộ luật Hình sự.
. Đánh giá tính chất, mức độ thực hiện hành vi của bị cáo: Hành vi của bị cáo thực hiện gây ra hậu đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của người khác, thể hiện tính chất côn đồ, hành vi bị cáo thực hiện gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bị cáo dùng cây tuýp sắt (là hung khí nguy hiểm) đánh trúng vào vùng cằm (là vùng trọng yếu trên cơ thể) của Đặng Quang H khi Đặng Quang H đang điều khiển xe mô tô có khả năng dẫn đến tử vong, việc Đặng Quang H chỉ bị thương tích 14% là ngoài ý muốn chủ quan của T. Ngoài ra, bị cáo nhận biết được việc H điều khiển xe mô tô thì không có khả năng đánh lại được bị cáo và cũng không có ý định tông xe vào người bị cáo. Mặt khác, sau khi đánh nhau trong xưởng gỗ và được mọi người can ngăn. Bị vẫn nảy sinh ý định tiếp tục đánh H nên đã đi về khu vực dãy phòng trọ để lấy cây tuýp sắt làm hung khí, khi thực hiện hành vi đánh H bị cáo dùng hai tay cầm cây tuýp sắt đánh một lực mạnh vùng mặt của H trong khi H đang điều khiển xe mô tô. Mặc dù tỷ lệ tổn thương cơ thể của H là 14%, nhưng hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ, gây nguy hiểm cho xã hội, coi thường tính mạng của người khác. Do đó, Hội đồng xét xử cần phải áp dụng hình phạt thật nghiêm đối với bị cáo nhằm mục đích giáo dục và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung
3.1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có tình tiết tăng nặng
3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là lao động chính trong gia đình, trong vụ án trên bị hại có một phần lỗi, gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại chi phí điều trị bị hại đã làm đơn bãi nại cho bị cáo; Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét cho bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý trong vụ án Đặng Quang H1 nên không đề cập xử lý trong vụ án này.
.Trong quá trình điều tra bị cáo cùng gia đình đã bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng chi phí điều trị, tại phiên tòa bị hại không yêu cầu bị cáo phảitiếp tục bồi thường đồng thời xin giảm nhẹ cho bị cáo. Do đó, đồng xét xử xem xét.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sơ thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Naitại phiên tòa về hành vi phạm tội, tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo theo quy định pháp luật không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận
Các vấn khác: Đối với Đặng Quang H, quá trình điều tra xác định: Sau khi đánh nhau bằng tay không cùng với Trần Quốc T trong Xưởng gỗ "Kiều My" đã được mọi người trong xưởng can ngăn, T và H chỉ bị trầy xước ngoài da, không có thương tích gì. Sau đó, H điều khiển xe chở H1 theo hướng từ trong xưởng cưa đi ra ngoài cổng để về, H chỉ điều khiển xe, không bàn bạc, không tham gia đánh T. Do đó, hành vi của Đặng Quang H chưa đủ yếu tố cấu thành tội "Cố ý gây thương tích", quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự nên không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với Trần Văn T2, quá trình điều tra xác định: Mặc dù không có mâu thuẫn gì với Đặng Quang H1 và Đặng Quang H. Nhưng khi T2 thấy Trần Quốc T là anh trai của T2 bị Đặng Quang H1 và Đặng Quang H đánh tại xưởng gỗ nên T2 cũng lao vào đánh nhau thì được mọi người trong xưởng can ngăn. Do bực tức nên T2 đã về khu vực phòng trọ lấy 01 con dao (loại dao chặt) mục đích để đánh nhau với H1 và nhưng chưa gây thương tích cho Đặng Quang H1 và Đặng Quang H. Đồng thời, Đặng Quang H1 và Đặng Quang H tự nguyện viết đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với Trần Văn T2. Hành vi của Trần Văn T2 chưa đủ yếu tố cấu thành tội "Cố ý gây thương tích", quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, hành vi của Trần Văn T2 đã vi phạm điểm a, khoản 5, Điều 8, Nghị định 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, mức phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng. Cơ quan CSĐT Công an Thành phố Đ đã lập hồ sơ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 17/QĐ-XPHC ngày 23/3/2026 đối với Trần Văn T2 với số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) theo quy định là phù hợp.
Đối với hành vi của Đặng Quang H1 dùng tay cầm cây gậy bằng kim loại (là hung khí nguy hiểm) đánh vào vùng đầu trúng vùng trán (là vùng trọng yếu của cơ thể) Trần Quốc T, hậu quả Trần Quốc T bị vỡ lún lõm sọ trán phải, gãy xoang trán phải, dập não trán phải, gãy thành trước, ngoài xoang hàm phải, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 54%. được tách thành vụ án riêng theo Quyết định tách vụ án hình sự số: B3492/QĐ-CSHS ngày 27/5/2026 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ để giải quyết theo quy định pháp luật nên không đề cập xử lý trong vụ án này.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Giết người”.
2. Áp dụng pháp luật và quyết định hình phạt: Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 15; Điều 57 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Trần Quốc T: 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2025.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tụng sự, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; (1) - Bị hại; (1) - Viện kiểm sát nhân dân Tp Đồng Nai; - Viện Công tố phúc thẩm Tối cao tại TP. Hồ Chí Minh; - Trại tạm giam số 1 Công an Tp Đồng Nai; - Phòng PV 06 – Công an Tp Đồng Nai; - Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Tp Đồng Nai (PC 01); - Phòng Thi hành án hình sự Tòa án Tp Đồng Nai; - Thi hành án dân sự Tp Đồng Nai; - Luật sư; Lưu hồ sơ, VP, TP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Kiều Lương |