vanban.org

Bản án 134/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng Tuyên án 17/06/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 04 (bốn) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/02/2026. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) ví da màu đen, bên trong màu đà (đã qua sử dụng) thu giữ của Nguyễn Văn Th. (Hiện … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Van Th - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2026/HS-ST
Ngày 17-6-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Khôi

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Sang

2. Ông Nguyễn Văn Lương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Loan - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Ng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng tiến hành mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 114/2026/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1024/2026/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2026 đối với:

- Bị cáo: Nguyễn Văn Th; tên gọi khác: Chút; sinh ngày 05 tháng 11 năm 1996, tại: xã Phú Ninh, thành phố Đà Nẵng; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở hiện nay: thôn Kỳ T, xã Phú N, thành phố Đà N; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nguyễn Quang T và bà Trần Thị Hồng L; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án:

- Ngày 24/02/2016, bị TAND thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”;

- Ngày 23/8/2016, bị TAND huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

- Ngày 28/10/2016, bị TAND huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

- Ngày 28/8/2020, bị TAND thành phố Đà Nẵng xử phạt 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/02/2026; chuyển tạm giam từ ngày 08/02/2026. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Tam Kỳ; có mặt.

- Bị hại: Bà Phạm Thị Hiếu Ng, sinh năm 1998, địa chỉ: khối phố Mỹ T, phường Tam K, thành phố Đà N; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thanh Ch, sinh năm 1985, địa chỉ: thôn 2, xã Thạnh B, thành phố Đà N; vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Dương Thanh D, sinh năm 1998, địa chỉ: Số 57 Hùng Vương, phường Bàn Th, thành phố Đà N; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 00 ngày 01/02/2026, Nguyễn Văn Th đi lang thang tại khu vực đường Nguyễn Hoàng, thuộc phường Tam Kỳ, thành phố Đà Nẵng để tìm nhà dân sơ hở trộm cắp tài sản. Khi đến đoạn gần giao với đường Lê Lợi thuộc phường Tam Kỳ, thành phố Đà Nẵng, Th nhìn thấy nhà của Phạm Thị Hiếu Ng không đóng cửa tầng 2 nên nảy sinh ý định đột nhập tìm kiếm tài sản để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Th đi đến bờ tường phía bên phải nhà bên cạnh dùng sức bật lên tường lững, sau đó bám vào trụ sắt gần đầu bờ tường và leo lên mái ngôi nhà này. Sau khi leo lên được, Th đi qua tấm đanh đầu mái nhà rồi tiếp cận đi sang ban công nhà Phạm Thị Hiếu Ng. Thấy phòng ngủ của Ng không khoá cửa, Th đi đến bàn được đặt cạnh giường ngủ lén lút lấy các tài sản vợ chồng Ng đang để trên bàn gồm: 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 màu vàng, 01 (một) máy tính xách tay màu bạc và 01 (một) điện thoại di động Iphone 17 Pro màu cam đang sạc pin tại cửa sổ rồi quay trở lại đường cũ leo xuống và rời đi. Th đi dọc đường Nguyễn Hoàng cách điểm giao nhau với đường Lê Lợi khoảng 15 mét về phía Bắc, Th cất giấu máy tính xách tay xuống bụi cỏ ven đường, lấy tấm nhựa màu trắng phủ lên với ý định sau này tìm được người mua sẽ quay lại lấy bán.

Đến khoảng 06 giờ 35 phút cùng ngày, Th để hai điện thoại đã trộm được vào túi quần rồi đón xe buýt lên xã Tiên Phước, thành phố Đà Nẵng vào tiệm điện thoại Á Ch thuộc xã Tiên Phước, thành phố Đà Nẵng do ông Nguyễn Thanh Ch làm chủ, Th bán điện thoại Iphone 11 màu vàng với giá 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm nghìn đồng). Sau khi bán điện thoại xong, Th ra ngồi ở bên đường chuẩn bị đón xe trở về lại thì có hai người định vị được vị trí của điện thoại bị mất ở gần Th nên tri hô, Th bỏ chạy vào rừng keo gần đó trốn. Sau đó, Th nhờ người dân gọi taxi quay về lại phường Tam Kỳ, thành phố Đà Nẵng. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Th vào tiệm Internet Cyber Tam Kỳ số 57 Hùng Vương, phường Bàn Thạch, thành phố Đà Nẵng chơi game. Khi Công an phường Tam Kỳ đến tiệm Internet Cyber Tam Kỳ để kiểm tra, xác minh theo vị trí định vị của chiếc điện thoại Iphone 17 Pro thì Th bỏ chạy và trốn tại tầng trệt tòa nhà B8, khu biệt thự Trường Hải thuộc phường Bàn Thạch, thành phố Đà Nẵng. Công an phường Tam Kỳ phối hợp với Công an phường Bàn Thạch tiến hành kiểm tra, phát hiện Th cất giấu trong túi quần Th đang mặc trên người chiếc điện thoại Iphone 17 Pro màu cam đã trộm cắp. Cơ quan Công an tiến hành lập biên bản thu giữ tang vật và yêu cầu Th dẫn đến chỉ vị trí cất giấu chiếc máy tính xách tay và tiến hành tạm giữ theo quy định. Số tiền 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm nghìn đồng) bán điện thoại trên có được, Th đã tiêu xài cá nhân hết 450.000 đồng (bốn trăm năm mươi nghìn đồng), còn lại 1.450.000 đồng (một triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) Th để trong ví cá nhân.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 03/KL-HĐĐGTS ngày 06/02/2026 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND phường Tam Kỳ, thành phố Đà Nẵng kết luận: 01 (một) điện thoại Iphone 17 Pro, màu cam số IMEI 352292531173653, gắn Esim Viettel số 0378368682 (đã qua sử dụng) trị giá là 31.333.000 (ba mươi mốt triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn) đồng; Ốp lưng nhựa màu vàng đồng trị giá 40.000 (bốn mươi nghìn) đồng; 01 (một) điện thoại di động Iphone 11, màu vàng số IMEI: 356547106275076, số IMEI2: 356547106767650 (đã qua sử dụng) trị giá 2.667.000 (hai triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn) đồng; 01 (một) máy tính xách tay Ideapad Slim 5 màu bạc, nhãn hiệu Lenovo trị giá 6.000.000 (sáu triệu) đồng. Tổng cộng: 40.040.000 (bốn mươi bốn triệu, không trăm bốn mươi nghìn) đồng.

Cáo trạng số 71/CT-VKSKV5 ngày 25/5/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.

Các vấn đề liên quan khác đề nghị xử lý theo nội dung đề nghị tại Cáo trạng.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết sai, bị cáo hối lỗi và xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về phụ giúp gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về nội dung:

Kết quả tranh tụng tại phiên tòa cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:

Bị cáo Nguyễn Văn Th có 04 tiền án, chưa được xoá án tích; ngày 28/8/2020, Nguyễn Văn Th bị TAND thành phố Đà Nẵng áp dụng tình tiết “tái phạm nguy hiểm” xử phạt 05 (năm) năm tù về tội "Trộm cắp tài sản", chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2025; đến ngày 01/02/2026, chưa được xoá án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại nhà của Phạm Thị Hiếu Ng thuộc khối phố Mỹ Tây, phường Tam Kỳ, thành phố Đà Nẵng. Bị cáo Nguyễn Văn Th đã lén lút, trộm cắp 01 (một) điện thoại Iphone 17 Pro, trị giá là 31.333.000 (ba mươi mốt triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn) đồng; 01 Ốp lưng nhựa màu vàng đồng trị giá 40.000 (bốn mươi nghìn) đồng; 01 (một) điện thoại di động Iphone 11, màu vàng trị giá 2.667.000 (hai triệu, sáu trăm sáu mươi bảy nghìn) đồng; 01 (một) máy tính xách tay Ideapad Slim 5 màu bạc, nhãn hiệu Lenovo trị giá 6.000.000 (sáu triệu) đồng. Tổng giá trị tài sản Th đã chiếm đoạt là 40.040.000 (bốn mươi triệu, không trăm bốn mươi nghìn) đồng.

Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Văn Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Theo nội dung Biên bản xác minh ngày 24/4/2026, sau khi chấp hành xong án phạt tù về lại địa phương, bị cáo Th ăn ở với gia đình. Thời gian đầu đi làm cùng với cha, sau đó đi may với chị gần nhà tại xã Phú Ninh. Việc ăn uống của bị cáo Th trong thời gian này do bà Liên (mẹ ruột) lo. Trong thời gian này, bị cáo Th đi làm với cha ruột, sau đó đi may và sơn nước. Từ đó, khẳng định Cáo trạng số 71/CT-VKSKV5 ngày 25 tháng 5 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng truy tố đối với bị cáo là đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Th là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo đã lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản, lén lút trộm cắp nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi này trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng: không.

- Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; đã tác động gia đình trả lại số tiền 450.000 đồng cho người liên quan, do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và các vấn đề liên quan khác:

- Bị hại Phạm Thị Hiếu Ng đã nhận lại đủ tài sản trộm cắp và không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên không xem xét;

- Ông Nguyễn Thanh Ch đã nhận lại đủ số tiền 1.900.000 đồng và không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên không xem xét, giải quyết.

* Về xử lý vật chứng trong vụ án:

- Đối với 01 (một) điện thoại Iphone 17 Pro, màu cam ốp lưng nhựa màu vàng bị vỡ màn hình ngoài; 01 (một) máy tính xách tay Ideapad Slim 5 màu bạc, nhãn hiệu Lenovo; 01 (một) điện thoại di động Iphone 11, màu vàng qua điều tra, xác minh đây là tài sản của bà Phạm Thị Hiếu Ng nên Cơ quan CSĐT đã trả lại cho chủ sở hữu bà Ng là phù hợp.

- Đối với số tiền 1.900.000 đồng là tiền thu lợi bất chính do Nguyễn Văn Th bán tài sản trộm cắp mà có, trong đó: Cơ quan điều tra đã thu giữ số tiền 1.450.000 đồng trong ví của Nguyễn Văn Th tại tiệm Internet Cyber và đã trả lại cho người liên quan là ông Nguyễn Thanh Ch là phù hợp; còn lại số tiền 450.000 đồng Nguyễn Văn Th đã tiêu xài cá nhân hết; gia đình Th đã bồi thường số tiền trên cho ông Ch nên không đề cập xử lý.

- Đối với 01 ví da màu đen bên trong màu đà thu giữ của Nguyễn Văn Th sử dụng để đựng số tiền trộm cắp tài sản, không có giá trị sử dụng, mua bán trên thị trường do đó, cần tịch thu tiêu huỷ.

* Vấn đề khác có liên quan trong vụ án:

Đối với ông Nguyễn Thanh Ch: vào ngày 01/02/2026 có mua 01 (một) điện thoại Iphone 11 màu vàng từ Nguyễn Văn Th với giá 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm nghìn đồng). Quá trình mua, bán ông Ch thấy Nguyễn Văn Th mở được mật khẩu màn hình nên ông Ch không nghi ngờ và không biết được Nguyễn Văn Th phạm tội mà có. Do đó, hành vi trên của ông Nguyễn Thanh Ch không cấu thành tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Điều 323, Bộ luật Hình sự và hành vi vi phạm hành chính nên không đề cập xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 04 (bốn) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/02/2026.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) ví da màu đen, bên trong màu đà (đã qua sử dụng) thu giữ của Nguyễn Văn Th. (Hiện đang tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 – Đà Nẵng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/5/2026).

4. Về án phí:Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Th phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17-6-2026). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ