vanban.org

Bản án 134/2026/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Duy C.

Xác định anh Nguyễn Duy C sinh ngày 17/4/1992, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx là cha đẻ của cháu Nguyễn Thị Ánh K (tên thường gọi Nguyễn Hà Ánh K) do chị Hà Thị T sinh ra ngày 09/8/2024 theo Giấy chứng sinh số 3962 quyển số 01/2024 do Bệnh viện phụ sản Thanh Hóa cấp ngày 09/8/2024. Anh Nguyễn Duy…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Xác định cha cho con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Duy C.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - THANH HÓA
Bản án số: 134/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 18-8-2026
V/v: Tranh chấp về xác định cha cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Liên Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Long

Bà Hoàng Thị Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Tố Quyên - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1

- Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tình - Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 8 năm 2026, tại Toà án nhân dân khu vực 1- Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 375/2026/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2026 về việc: Tranh chấp về xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1055/2026/QĐXX-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Duy C, sinh năm 1992; Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; Nơi cư trú: Số Q, phường H, tỉnh T;

Bị đơn: Chị Hà Thị T, sinh năm 1998; Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxx; Nơi thường trú: Tổ Z, phường C, tỉnh Q; Nơi ở hiện nay: Số Y, phường H, tỉnh Thanh Hóa;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Hữu T1, sinh năm: 1986; Địa chỉ: Tổ Z, khu phố C, phường T, tỉnh Q

Các đương sự có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Duy C trình bày:

Năm 2022 anh và chị Hà Thị T gặp gỡ, tìm hiểu và yêu nhau, có quan hệ tình cảm và chị T đã có thai với anh. Khi anh chị đến với nhau thì chị T chưa ly hôn với chồng là Nguyễn Hữu T1 ở Quảng Ninh nhưng đã ly thân và về Thanh Hóa sinh sống từ năm 2020. Đến tháng 5 năm 2024 thì chị T và anh T1 ly hôn. Ngày 09/8/2024 chị T sinh một bé gái tại Bệnh viện phụ sản Thanh Hóa và dự định đặt tên là Nguyễn Thị Ánh K (tên thường gọi ở nhà là Nguyễn Hà Ánh K). Anh đã tiến hành giám định AND với cháu Nguyễn Thị Ánh K (Nguyễn Hà Ánh K). Tại Kết luận giám định số: KL2500319/TH ngày 17/12/2025 của Viện công nghệ sinh học AND (tên đăng ký Công ty TNHH Công nghệ sinh hcoj AND): Anh Nguyễn Duy C và cháu Nguyễn Hà Ánh Kcó mối quan hệ huyết thống cha - con. Hiện nay anh và chị T đã kết hôn nên anh muốn làm thủ tục khai sinh cho cháu Nguyễn Thị Ánh K (Nguyễn Hà Ánh Kim). Anh đề nghị Tòa án xác định anh và cháu Nguyễn Thị Ánh Kim (Nguyễn Hà Ánh K) sinh ngày 09/8/2024 theo Giấy chứng sinh số 01/2024 ngày 09/8/2024 của Bệnh viện phụ sản Thanh Hóa có quan hệ cha - con.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Hà Thị T trình bày:

Chị và anh Nguyễn Hữu T1 đăng ký kết hôn vào năm 2018, đến cuối năm 2020 phát sinh mâu thuẫn nên chị đã mang con chung với anh T1 là Nguyễn Hữu T2 sinh ngày 28/10/2018 về Thanh Hóa sinh sống. Từ khi chị về Thanh Hóa thì không nảy sinh quan hệ và không mang thai với anh T1. Đến năm 2022 chị gặp gỡ và có quan hệ tình cảm với anh Nguyễn Duy C sau đó chị phát hiện chị mang thai là con của anh C. Đến tháng 7 năm 2024 chị được Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xử cho chị ly hôn với anh T1 và xác định giữa chị và anh T1 có 01 con chung là cháu Nguyễn Hữu T2 sinh ngày 28/10/2018. Ngày 09/8/2024 chị sinh ra một bé gái dự định đặt tên là Nguyễn Thị Ánh K (tên thường gọi ở nhà là Nguyễn Hà Ánh K) tại Bệnh viện phụ sản Thanh Hóa. Chị thống nhất với ý kiến của anh C về việc đã giám định quan hệ huyết thống cha - con giữa anh C và cháu Nguyễn Thị Ánh K (Nguyễn Hà Ánh K). Chị đề nghị Tòa án căn cứ theo kết luận giám định để xác định mối quan hệ huyết thống cha - con giữa anh Cương và cháu Nguyễn Thị Ánh K (Nguyễn Hà Ánh K) để đảm bảo quyền lợi cho cháu.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hữu T1: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Tiến theo quy định của pháp luật. Anh T1 thừa nhận giữa anh và chị Thắm đã sống ly thân từ lâu, trong thời gian đó chị T có quan hệ với người đàn ông khác và đã sinh ra cháu bé dự định đặt tên là Nguyễn Thị Ánh K. Qua giám định cháu Nguyễn Thị Ánh K và anh Nguyễn Duy C có quan hệ cha - con, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho cháu Ánh Kim, anh xin vắng mặt tại các buổi làm việc, xét xử của Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Thanh Hóa trình bày ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đúng thủ tục tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành nghiêm quy định của pháp luật và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Về việc giải quyết vụ án: Điều 89, 101, 102 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; 228; 271; 273; 278; 280 BLTTDS; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Duy Cương, xác định anh Nguyễn Duy C là cha đẻ của cháu Nguyễn Thị Ánh K (Nguyễn Hà Ánh K) do chị Hà Thị T sinh ra ngày 09/8/2024.

Về án phí: Anh Nguyễn Duy C được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Tranh chấp giữa nguyên đơn anh Nguyễn Duy C và bị đơn chị Hà Thị T là Tranh chấp xác định cha cho con. Bị đơn có địa chỉ tại phường Hàm Rồng, tỉnh Thanh Hóa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1-Thanh Hóa theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.

Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã được tống đạt hợp lệ và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227; 228 BLTTDS để giải quyết vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung:

Chị Hà Thị T và anh Nguyễn Hữu T1 kết hôn hợp pháp, có đăng ký kết hôn ngày 06/6/2018 tại UBND phường Cẩm Trung, thành phố Cảm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Do mâu thuẫn nên năm 2020 chị T đã về Thanh Hóa sinh sống và đến năm 2022 đã quan biết và tìm hiểu anh Nguyễn Duy C, đến năm 2024 thì chị T đã mang thai. Năm 2024 chị và anh T1 đã ly hôn theo bản án số 24/2024/HNGĐ-ST ngày 24/5/2024 của TAND thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh về phần con chung của anh chị là cháu Nguyễn Hữu T2. Ngày 09/8/2024 chị T sinh cháu bé dự định đặt tên là Nguyễn Thị Ánh K tại Bệnh viện phụ sản Thanh Hóa theo Giấy chứng sinh do bệnh viện cấp và ngoài tên dự định đặt theo giấy khai sinh thì anh chị còn gọi cháu bé là Nguyễn Hà Ánh K. Từ khi chị T mang thai, đến khi sinh con anh C đều tận tình chăm sóc cháu Ánh K, hiện nay anh chị đã đăng ký kết hôn.

Anh Nguyễn Duy C đã tiến hành xét nghiệm ADN giữa anh và cháu Nguyễn Thị Ánh K (Nguyễn Hà Ánh K). Kết luận giám định số: KL2500319/TH ngày 17/12/2025 của Viện công nghệ sinh học AND (tên đăng ký Công ty TNHH Công nghệ sinh học AND) kết luận: Anh Nguyễn Duy C và cháu Nguyễn Hà Ánh K có mối quan hệ huyết thống cha - con. Chị T, anh T1 đồng ý với kết luận giám định nêu trên và đề nghị Tòa án xác định anh Cương là cha đẻ của cháu Ánh K. Vì vậy có cơ sở để xác định anh Nguyễn Duy Cương là cha đẻ cháu Nguyễn Thị Ánh K (Nguyễn Hà Ánh K) do chị Hà Thị T sinh ra ngày 09/8/2024.

[3]. Về án phí: Anh Nguyễn Duy C được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 89, 101, 102 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 28; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; 228; 271; 273; 278; 280 của BLTTDS; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Duy C.

Xác định anh Nguyễn Duy C sinh ngày 17/4/1992, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx là cha đẻ của cháu Nguyễn Thị Ánh K (tên thường gọi Nguyễn Hà Ánh K) do chị Hà Thị T sinh ra ngày 09/8/2024 theo Giấy chứng sinh số 3962 quyển số 01/2024 do Bệnh viện phụ sản Thanh Hóa cấp ngày 09/8/2024. Anh Nguyễn Duy C và chị Hà Thị T được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký, thay đổi, cải chính bổ sung hộ tịch và thực hiện các quyền về lý lịch tư pháp cho cháu Nguyễn Thị Ánh K (Nguyễn Hà Ánh K) sinh ngày 09/8/2024 theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Duy C được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ