vanban.org

Bản án 134/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 13/08/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/08/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn H; sửa bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng tr hàng c m” p dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn H. Tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn H; sửa bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2025/HS-PT
Ngày: 13-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh

Các Thẩm phán:

Ông Hoàng Rung K’ Nhơn

Ông Nguyễn Công Hoàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 100/2025/TLPT-HS ngày 28 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Trần Văn H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2025/HSST ngày 21/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2, Lâm Đồng)

* Bị cáo kháng cáo.

Họ và tên: Trần Văn H, sinh năm 1987; nơi sinh: Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn Kinh tế mới, xã N, tỉnh Lâm Đồng (Thôn Kinh tế mới, xã N, Đức Trọng, Lâm Đồng); nghề nghiệp: Làm nông; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 05/12; con ông: Trần Văn B; con bà: Trần Thị Ng; vợ: Nguyễn Thị D, và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị b t tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 31/12/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 23/12/2024, Công an huyện Đức Trọng tiến hành kiểm tra căn nhà địa chỉ tại thôn Kinh Tế Mới, xã Ninh Gia, huyện Đức Trọng, Lâm Đồng do Trần Văn H làm chủ. Tại thời điểm kiểm tra phát hiện tại vị trí trên gác lửng phòng kho có 01 bao cước màu đen. Kiểm tra bên trong bao cước có chứa 05 hình hộp chữ nhật, vỏ bên ngoài nhiều màu s c và có chữ nước ngoài, kích thước 17cm x 17cm x 10cm (nghi là pháo nổ); 01 túi nilon bên trong chứa 84 viên hình cầu, vỏ bên ngoài nhiều màu s c, đường kính 2,5cm (nghi là pháo nổ); 07 túi nilon bên trong chứa 700 viên hình cầu, vỏ bên ngoài nhiều màu s c, đường kính 1cm (nghi là pháo nổ). Cơ quan Công an tiến hành lập biên bản b t người phạm tội quả tang đối với Hải, đồng thời tạm giữ và niêm phong số tang vật trên để gửi giám định.

Tại cơ quan Công an, Hải khai nhận toàn bộ 05 hộp hình chữ nhật, vỏ bên ngoài nhiều màu s c và có chữ nước ngoài là pháo bông, loại 49 ống; 84 viên hình cầu, vỏ bên ngoài nhiều màu s c, đường kính 2,5cm và 700 viên hình cầu, vỏ bên ngoài nhiều màu s c, đường kính 1cm là pháo bi nổ. Hải mua toàn bộ số pháo trên của một tài khoản (không nhớ tên) trên mạng xã hội Facebook với tổng số tiền 8.000.000đồng. Mục đích Trần Văn H mua toàn bộ số pháo trên để dành chơi tết nguyên đán năm 2025.

Ngày 30/12/2024, phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng có Kết luận giám định số 1443 kết luận số pháo thu giữ gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ, tổng khối lượng là 9,7 kg.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ các vật chứng sau: 9,7 kg pháo nổ; 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng, màu xanh hiệu SamSung. Đối với số pháo còn lại sau giám định cơ quan chức năng đã tiến hành tiêu hủy theo quy định. Đối với điện thoại di động cảm ứng, màu xanh hiệu SamSung hiện đã bàn giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Trọng chờ xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 68/CT-VKSĐT ngày 10/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Tàng tr hàng c m” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 81/2025/HSST ngày 21/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2, Lâm Đồng) đã xử;

Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng tr hàng c m”

p dụng điểm c khoản 1 Điều 191; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

ử phạt bị cáo Trần Văn H 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày b t đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 31/12/2024.

Ngoài ra, bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 25/4/2025, bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo hoặc phạt tiền.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không th c m c, khiếu nại nội dung bản án sơ thẩm, khai nhận hành vi như bản án sơ thẩm đã xét xử; đồng thời giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, nên đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như bản án sơ thẩm quy kết. ét lời khai nhận tội của bị cáo thống nhất với lời khai của người chứng kiến, Kết luận giám định, phù hợp với tất cả các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Do gần đến tết nguyên đán nên bị cáo nảy sinh ý định mua pháo về đốt chơi tết, thông qua mạng xã hội Facebook, bị cáo đặt mua 05 hộp hình chữ nhật, vỏ bên ngoài nhiều màu s c và có chữ nước ngoài, kích thước 17cm x 17cm x 10cm; 01 túi nilon bên trong chứa 84 viên hình cầu, vỏ bên ngoài nhiều màu s c, đường kính 2,5cm; 07 túi nilon bên trong chứa 700 viên hình cầu, vỏ bên ngoài nhiều màu s c, đường kính 1cm. Với tổng số tiền là 8.000.000đồng. Sau khi Hải đặt mua và cho địa chỉ nhà ở của Hải, khi người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) đến giao pháo cho Hải, Hải trả bằng tiền mặt. Sau khi nhận pháo Hải mang về cất giấu trong nhà, mục đích đốt chơi tết. Đến khoảng 17 giờ 30 ngày 23/12/2024, cơ quan Công an kiểm tra nhà Hải phát hiện, lập biên bản phạm tội quả tang, niêm phong tang vật gửi giám định. Tại kết luận giám định số 1443/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận toàn bộ tang vật gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ. Tổng khối lượng là 9,7kg.

Với hành vi như trên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng tr hàng c m” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo xin hưởng án treo hoặc phạt tiền, Hội đồng xét xử thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là đầy đủ và xử phạt bị cáo mức án 06 tháng tù, mức khởi điểm của khung hình phạt là có căn cứ và phù hợp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và xuất trình tình tiết giảm nhẹ mới là có bố tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc được hưởng chế độ trợ cấp 1 lần, bản thân là lao động chính trong gia đình nuôi mẹ già và 03 con nhỏ, hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, bản thân đang điều trị bệnh ung thư tuyến giáp tại bệnh viên ung bướu, đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. ét thấy, bị cáo phạm tội nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, là lao động chính trong gia đình, đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Do vậy, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không chịu án phí hình sự phúc thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn H; sửa bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng tr hàng c m”

p dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự

ử phạt bị cáo Trần Văn H 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (13/8/2025)

Giao bị cáo Trần Văn H cho Uỷ ban nhân dân xã Ninh Gia, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải ch p hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải ch p hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

3. Về án phí: p dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Văn H không phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ