- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T + T1"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 134/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16 – 8 – 2024 “ V/v Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Thạch Xa Riết
2/ Ông Trần Văn Lập
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long: không tham gia phiên tòa.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 281/2024/TLST - HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 181/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 101/2024/QĐST – HNGĐ ngày 29/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1989.
Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1983.
Địa chỉ cư trú: ấp B, xã T, L, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày:
- Về mối quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị T và anh T1 hình thành là do tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 11/10/2007. Sau khi cưới, chị T và anh T1 sống tại ấp B, xã T, huyện V. Thời gian đầu chị T và anh T1 chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên cự cải, không còn hạnh phúc, anh T1 có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, không quan tâm chăm sóc vợ, con. Chị T và anh T1 ly thân năm 2021 đến nay.
Nay chị T cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh T1.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 26/3/2006 và Nguyễn Ngọc Như H, sinh ngày 13/5/2011. Do Nguyễn Thị Thanh N đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết; đối với cháu H thì tùy theo nguyện vọng của cháu muốn sống với ai thì người đó chăm sóc, nuôi dưỡng và người kia không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh T1 vắng mặt tại phiên Tòa không lý do và không vì sự kiện bất khả kháng, không cung cấp bảng khai ý kiến về các vấn đề của nguyên đơn yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về trình tự, thủ tục tố tụng:
Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý vụ án, các tài liệu chứng cứ do đương sự tự giao nộp, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, các bên đương sự là người đã thành niên, không bị nhược điểm về thể chất tâm thần. Căn cứ vào khoản 2, Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia phiên tòa.
Xét việc bị đơn anh T1 được triệu tập hợp lệ tham dự phiên hòa giải, thông báo về việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và ngày giờ xét xử đến lần thứ hai, nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Xét thấy, có thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn; Hội đồng xét xử, quyết định xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét yêu cầu của nguyên đơn: Hội đồng xét thấy, giữa Chị T và anh T1 có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuy nhiên, trong quá trình chung sống chị T cho rằng do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên cự cải, không còn hạnh phúc, anh T1 có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, không quan tâm chăm sóc vợ, con. Chị T và anh T1 đã ly thân với nhau từ năm 2021 đến nay từ đó làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình. Anh T1 không có ý kiến phản bác nên đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án đã triệu tập anh T1 nhiều lần, để hòa giải nhằm giúp hai bên có thời gian, có cơ hội hàn gắn tình cảm, nhưng anh T1 không đến Tòa án Từ đó, cho thấy anh T1 không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Anh T1 không quan tâm chăm sóc vợ, con vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của người chồng, đồng thời chị T và anh T1 ly thân từ năm 2021. Từ đó cho thấy hôn nhân giữa Chị T và anh T1 đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu xin ly hôn với anh T1 là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hưỡng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 26/3/2006 và Nguyễn Ngọc Như H, sinh ngày 13/5/2011. Sau khi ly hôn, do Nguyễn Thị Thanh N đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết; đối với cháu H thì tùy theo nguyện vọng của cháu muốn sống với ai thì người đó chăm sóc, nuôi dưỡng và người kia không phải cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Đối với Nguyễn Thị Thanh N đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét; Đối với cháu H từ nhỏ sống với chị T và anh T1 thì cuộc sống và học tập ổn định, phát triển bình thường.
Tại bản khai ý kiến, cháu H có nguyện vọng ở chung với chị T để tiếp việc đi học. Do đó cần giao cháu H cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chị T không có yêu cầu cấp dưỡng nên anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu giải quyết. Bị đơn anh T1 không có ý kiến phản bác nên Hội đồng đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Chị T không yêu cầu giải quyết. Bị đơn anh T1 không có ý kiến phản bác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Chị T phải chịu số tiền án phí là: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí sơ thẩm về việc ly hôn.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; 228 và 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng các Điều 9; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hưỡng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử;
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Như H, sinh ngày 13/5/2011 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
4. Về nợ chung phải thu, phải trả: Chị T và anh T1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phạm Thị Thu T2 phải nộp số tiền là: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí sơ thẩm về ly hôn; Được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0009127 ngày 30/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm,.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: THẨM - TAND tỉnh Vĩnh Long; -VKSND huyện Vũng Liêm; -Chi cục THADS huyện Vũng Liêm; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Cường |