- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Công Phúc - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm b Khoản 1 Điều 173; Điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 134/2023/HS-ST Ngày: 19 – 5 – 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Hiệp
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Túy Phượng;
Bà Dương Thị Bạn.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 98/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Huỳnh Công P, sinh năm 1984 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: 229 khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn T và bà Huỳnh Thị H; tiền án: Ngày 24/9/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 288/2021/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/3/2022; tiền sự: Ngày 07/7/2020 bị Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy bảo trợ xã hội Phú Văn, chấp hành xong ngày 07/4/2021; nhân thân: Ngày 09/01/2007, bị Tòa án nhân dân huyện (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại bản án số 02/2007/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/9/2007; ngày 28/6/2006, bị Công an thị trấn (nay là phường) A, huyện (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 350.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đóng phạt ngày 28/6/2006; ngày 04/11/2014, bị Công an phường A, thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 200.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng, đóng phạt ngày 04/11/2014; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2022 cho đến nay, có mặt.
- Bị hại: Bà Thạch Thị S, sinh năm: 1968, nơi cư trú; Ấp T, xã V, huyện T tỉnh Sóc Trăng; tạm trú: 15/2B khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Dương Văn C; nơi cư trú: 4/5 Nguyễn Ngọc S, khu phố 6, phường 5, thành phố C, tỉnh Cà Mau, vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Quách Tr, sinh năm 2002, vắng mặt.
2. Bà Trần Thị H, sinh năm 1963, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Huỳnh Công Ph có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản năm 2021 chưa được xóa án tích. Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 16/12/2022, Ph đi bộ đến địa chỉ số 15/2B, khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương để tìm tài sản chiếm đoạt. Lúc này, Phúc nhìn thấy 01 chiếc xe mô tô màu đen không có biển số, số khung: RNDWCH1ND71A07665, số máy: VDGZS152FMHWL007665 của bà Thạch Thị S đang để ở hành lang dãy nhà trọ, không có người trông coi, thấy vậy Ph lén lút đi đến đẩy xe mô tô trên ra ngoài một đoạn khoảng 5 mét rồi đạp nổ máy xe chuẩn bị chạy thì bị ông Quách Tr phát hiện, truy hô. Ph liền để xe mô tô lại bỏ chạy bộ thì bị ông Tr và người dân đuổi theo bắt giữ giao cho Công an phường B lập biên bản phạm tội quả tang, sau đó chuyển giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T xử lý.
Căn cứ kết luận định giá tài sản và biên bản định giá tài sản ngày 20/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 (một) chiếc xe mô tô biển số: 69K3-0443, số khung: RNDWCH1ND71A07665, số máy: VDGZS152FMHWL007665, đăng ký mới 7/2007 có trị giá 1.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 114/CT-VKS-TA ngày 04/04/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T đã truy tố bị cáo Huỳnh Công Ph về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Huỳnh Công Ph về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 173; Điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Huỳnh Công Ph từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa người bị hại Thạch Thị S không có yêu cầu gì khác nên không đề nghị xử lý.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T 01 (một) chiếc xe mô tô, số khung: RNDWCH1ND71A07665, số máy: VDGZS152FMHWL007665 để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Huỳnh Công Ph trình bày ý kiến: Thống nhất với tội danh và điều luật như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Công Ph đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo trước Tòa. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 01 giờ 30 ngày 16/12/2022, tại địa chỉ số 15/2B, khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương bị cáo Huỳnh Công Ph có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) chiếc xe mô tô, số khung: RNDWCH1ND71A07665, số máy: VDGZS152FMHWL007665 là tài sản bà Thạch Thị S trị giá 1.000.000 đồng nhưng đã bị kết án về tội này nhưng chưa được xóa án tích. Hành vi của bị cáo Huỳnh Công Ph đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, thuộc tình tiết định khung “Đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố bị cáo Huỳnh Công Ph về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật Hình sự và sẽ bị xử lý nhưng vì động cơ tư lợi nên cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả và pháp luật. Do đó cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo có nhân xấu:
+ Ngày 24/9/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 288/2021/HSST ngày 24/9/2021, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/3/2022.
+ Ngày 07/7/2020, bị Tòa án nhân dân Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy bảo trợ xã hội Phú Văn, chấp hành xong hình phạt ngày 07/4/2021.
+ Ngày 28/6/2006, bị Công an thị trấn (nay là phường) A, huyện (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 350.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đóng phạt ngày 28/6/2006.
+ Ngày 09/01/2007, bị Tòa án nhân dân huyện (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại bản án số 02/2007/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/9/2007.
+ Ngày 04/11/2014, bị Công an phường An T, thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 200.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng, đóng phạt ngày 04/11/2014.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 24/9/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 288/HSST ngày 24/9/2021, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/3/2022 chưa được xóa án tích, tuy nhiên đây là tình tiết định khung hình phạt nên không phải tình tiết tăng nặng đối với bị cáo.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp gây thiệt hại không lớn; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Huỳnh Công Ph từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù là phù hợp nên được chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị hại bà Thạch Thị S không yêu cầu bị cáo Huỳnh Công Ph phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Về xử lý vật chứng: 01 (một) chiếc xe mô tô không gắn biển số, số khung: RNDWCH1ND71A07665, số máy: VDGZS152FMHWL007665 do bị cáo Huỳnh Công Ph chiếm đoạt của bị hại Thạch Thị S. Quá trình điều tra, xác minh được biết, xe mô tô trên có biển số: 69K3-0443 do ông Dương Văn Ch đứng tên trên giấy đăng ký. Ông Ch khai nhận đã bán xe mô tô trên cho một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) và không làm thủ tục mua bán xe, ông Ch không yêu cầu gì về chiếc xe này. Bà Thạch Thị S khai nhận được một người bạn tên H (không rõ nhân thân, lai lịch) trước đây làm chung công ty cho để sử dụng làm phương tiện đi lại, do đây là tài sản chưa xác định rõ nguồn gốc nên cần giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Huỳnh Công Ph phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
+ Điểm b Khoản 1 Điều 173; Điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
+ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
+ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Công Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Xử phạt bị cáo Huỳnh Công Ph 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/12/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T 01 (một) chiếc xe mô tô, màu đen, không gắn biển số, số khung: RNDWCH1ND71A07665, số máy: VDGZS152FMHWL007665 để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/04/2023 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T).
3. Về án phí: Bị cáo Huỳnh Công Ph phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Công an thành phố Thuận An; - Chánh án (để báo cáo); - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu: HS, THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA- VKSND thành phố Thuận An; Nguyễn Đình Hiệp |