vanban.org

Bản án 134/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 29/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1/. Tuyên bố: bị cáo Tô Điền T, phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Điền Th - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2023/HS-ST
Ngày: 28 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Khel .

Ông Nguyễn Trần Anh Duy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Lịnh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ánh Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 134/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Tô Điền T, sinh năm 1997 tại Sóc Trăng. Đăng ký thường trú: ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tô Văn S (chết) và bà Trần Thị Ngọc A (chết); có vợ và 03 con; tiền án: không; tiền sự: 02 lần, Vào ngày 13 tháng 7 năm 2020, bị Toà án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn là 24 tháng và ngày 07 tháng 8 năm 2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn là 24 tháng (về nhân thân: vào năm 2008 bị Công an thành phố S khởi tố về hành vi trộm cắp tài sản, với số tiền 1.700.000 đồng, vụ án đã được đình chỉ do hành vi bị cáo chưa cấu thành tội phạm). Bị cáo đang bị quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Bị hại:

Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1980. Địa chỉ: nhà không số, đường P, Khóm F, Phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

Bà Tăng Thị S1, sinh năm 1975. Địa chỉ: nhà không số, đường P, Khóm F, Phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tô Điền T là người không có nghề nghiệp ổn định và nghiện ma túy.

Vào khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 18 tháng 6 năm 2023, Tô Điền T điều khiển xe mô tô loại xe Nouvo không có biển số chạy vào hẻm trên đường P thuộc Phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. T đi vào hẻm thì thấy có một căn nhà không số, đường P, khóm F, phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, nhà của bị hại Nguyễn Thanh L và Tăng Thị S1, không có đóng cửa và không có người trong nhà. T nảy sinh ý định vào căn nhà này để tìm tài sản lấy trộm tài sản, với ý định đó T đậu xe gần cửa nhà và đi bộ vào nhà lấy cái máy hàn điện màu đỏ và một điện thoại di động hiệu VIVO, khi lấy được tài sản thì T mang ra xe và nhanh chóng tẩu thoát. T chạy xe ra đường C thì gặp một người nam mua ve chai (không biết tên địa chỉ cụ thể) T bán máy hàn cho người này với giá là 300.000 đồng. Sau đó T đến chợ B và bán chiếc điện thoại cho người nam lạ mặt (không biết tên địa chỉ cụ thể) được 400.000 đồng. Khi có tiền thì T tiêu xài cá nhân hết. Trong quá trình điều tra T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 103/KL.ĐGTS ngày 25 tháng 7 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng kết luận: 01(một) điện thoại di động hiệu VIVO Y30, màu xanh, đã qua sử dụng, tỷ lệ sử dụng còn lại là 90%, có giá là 4.041.000 đồng; 01(một) máy hàn điện OSHIMA MOS-200, công suất 5.7KWA, màu đỏ, đã qua sử dụng, tỷ lệ sử dụng còn lại là 50%, có giá là 1.395.000 đồng. Tổng tài sản bị cáo chiếm đoạt là 5.436.000 đồng.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ gồm: 01 (một) xe mô tô không gắn biển số, nhãn hiệu YAMAHA, số loại NOUVO, số khung RLCN5P1109V077831, số máy 5P11077839, đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Thanh L và bà Tăng Thị S1 yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền là 5.436.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 131/CT-VKS-TPST ngày 26/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo Tô Điền T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng giữ nguyên quyết định truy tố về hành vi của bị cáo Tô Điền T và đề nghị Tòa án tuyên bố bị cáo Tô Điền T phạm tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: bị cáo thành khẩn khai báo theo quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và đề nghị áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: một xe mô tô không gắn biển số, nhãn hiệu YAMAHA, số loại NOUVO, số khung RLCN5P1109V077831, số máy 5P11077839, đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 585, 586, 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại ông Nguyễn Thanh L và bà Tăng Thị S1 tổng số tiền 5.436.000 đồng.

Về án phí thì đề nghị buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

- Bị cáo Tô Điền T thừa nhận hành vi phạm tội, không trình bày tranh luận bào chữa và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị hại ông Nguyễn Thanh L, bà Tăng Thị S1 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và việc vắng mặt của các ông, bà nêu trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Tô Điền T là công dân Việt Nam, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, vào thời điểm thực hiện hành vi bị khởi tố không mắc bệnh tâm thần hay một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình nên có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Tô Điền T thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố bị cáo là đúng với hành vi của bị cáo, cụ thể:

Vào khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 18 tháng 6 năm 2023, bị cáo điều khiển xe mô tô loại xe Nouvo không có biển số chạy vào hẻm P thì thấy có một căn nhà không số, đường P, khóm F, phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng không có đóng cửa và không có người trong nhà nên bị cáo nảy sinh ý định vào căn nhà này để tìm tài sản lấy trộm tài sản, với ý định đó bị cáo đậu xe gần cửa nhà và đi bộ vào nhà lấy cái máy hàn điện màu đỏ và một điện thoại di động hiệu VIVO, khi lấy được tài sản thì bị cáo mang ra xe và nhanh chóng tẩu thoát. Bị cáo chạy xe ra đường C thì gặp một người nam mua ve chai bán máy hàn cho người này với giá là 300.000 đồng. Sau đó bị cáo đến chợ B và bán chiếc điện thoại cho người nam lạ mặt (không biết tên địa chỉ cụ thể) được 400.000 đồng. Khi có tiền thì bị cáo tiêu xài cá nhân hết. Bị cáo đã nhận được thông báo kết luận định giá tài sản, bị cáo đã biết sai và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Lời thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 18 tháng 6 năm 2023, bị cáo Tô Điền T lợi dụng sự sơ hở của các bị hại đã lén lút lấy trộm: 01(một) điện thoại di động hiệu VIVO Y30, màu xanh, có giá là 4.041.000 đồng; 01(một) máy hàn điện OSHIMA MOS-200, công suất 5.7KWA, màu đỏ, có giá là 1.395.000 đồng. Tổng tài sản bị cáo chiếm đoạt là 5.436.000 đồng của bị hại Nguyễn Thanh L và Tăng Thị S1 tại nhà không số, đường P, khóm F, phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã lén lút lấy trộm tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nên đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng… thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm). Từ đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo để xét xử về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo nên được xem xét, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù với một thời gian nhất định đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và nhằm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tạm giữ: một xe mô tô không gắn biển số, nhãn hiệu YAMAHA, số loại NOUVO, số khung RLCN5P1109V077831, số máy 5P11077839, đã qua sử dụng. Đây là xe của bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: bị hại ông Nguyễn Thanh L yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 1.395.000 đồng, bị hại bà Tăng Thị S1 yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 4.041.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận và buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông L số tiền 1.395.000 đồng, bồi thường cho bà S1 số tiền 4.041.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày quan điểm luận tội, mức hình phạt và các biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Các Điều 585, 586, 589 Bộ luật dân sự năm 2015.

Điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/. Tuyên bố: bị cáo Tô Điền T, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2/. Xử phạt: bị cáo Tô Điền T 1 (một) tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

3/. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: một xe mô tô không gắn biển số, nhãn hiệu YAMAHA, số loại NOUVO, số khung RLCN5P1109V077831, số máy 5P11077839, đã qua sử dụng.

(Vật chứng nêu trên đang được quản lý tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng).

4/. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Tô Điền T bồi thường cho bị hại Nguyễn Thanh L số tiền 1.395.000 (một triệu, ba trăm chín mươi lăm nghìn) đồng, bồi thường cho bị hại Tăng Thị S1 số tiền 4.041.000 (bốn triệu, không trăm bốn mươi mốt nghìn) đồng.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người có quyền thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng người bị thi hành án còn phải trả lãi cho người có quyền thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

5/. Về án phí: buộc bị cáo Tô Điền T phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

6/. Thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

7/. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ