- Tranh chấp gì? án hình sự — "Y Sa V phạm tội “C ớp iật tài s n” - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Y Sa V phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP.BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK ơ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 134/2023/HS-ST Ngày 25/5/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Tuấn Anh và ông Nguyễn Hữu Long.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên toà: ng Nguyễn Hữu Tinh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2023, tại phòng xử án A, trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử k n vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 115/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Y Sa V; (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày: 14/01/2008; Tại: Tỉnh Đ.
Nơi cư trú: Tổ dân phố 7, phường E, thành phố B, tỉnh Đ; giới t nh: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Ê Đê; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08/12; con ông Y S (đã chết); con bà H’ C, sinh năm 1987; bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, từ ngày 21/12/2022 cho đến nay – Có mặt.
gười giám hộ cho bị cáo: Bà H’Tr, sinh năm 1965. Địa chỉ: Tổ dân phố 7, phường E, thành phố B, tỉnh Đ.
gười bào ch a cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thu Trang, sinh năm 1991 - Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Lắk có mặt .
- gư i ị hại: Ông Nguyễn Văn L, trú tại: Tổ dân phố 2, phường E, thành phố B, tỉnh Đ.
gười đại diện cho bị hại: Bà Nguyễn Thị Bạch T, sinh năm 1973; trú tại: Số nhà 59, liên gia 2, tổ dân phố 2, phường E, thành phố B, tỉnh Đ.
gười bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp cho bị hại: ng Tr n Trọng H ng, sinh năm 1972 - Văn phòng lu t sư Công Tâm, thuộc đoàn lu t sư tỉnh Đắk Lắk.
ều có đơn in v ng mặt
- gư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Y H Niê, sinh ngày 01/4/2009, trú tại: Buôn M’ Đuk, phường E, thành phố B, tỉnh Đ.
- H’ N Niê, sinh năm 2005; trú tại: Số 105 đường 19/5, phường E, thành phố B, tỉnh Đ.
gười giám hộ Y H Niê, H’
iê: Bà H’W Niê, sinh năm 1963; trú tại: Tổ dân phố 2, phường E, thành phố B, tỉnh Đ.
- Hồ Gia B, sinh năm 2007 và Hồ Gia Ph, sinh năm 2010; c ng trú tại: Số 121 đường 19/5, phường E, thành phố B, tỉnh Đ.
gười giám hộ cho B và h: ng Hồ Ngọc D, sinh năm 1973; trú tại: Số 121 đường 19/5, phường E, thành phố B, tỉnh Đ.
( ều có đơn in v ng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 03/6/2022, Y Sa V sinh ngày: 14/01/2008, Y H Niê, sinh ngày 01/4/2009; Hồ Gia B, Hồ Gia Ph, c ng trú tại: 121 đường 19/5, phường E, thành phố B, tỉnh Đ và H’ N Niê rủ nhau đi chơi. Đến khoảng 23 giờ c ng ngày, khi Y Sa V, Y H, B, Ph và H’N đi bộ đến ph a trước số nhà 66 Y Nuê, phường Ea Tam, thành phố Buôn Ma Thuột, thì thấy ông Nguyễn Văn L (là người ăn xin, bị liệt tay phải, chân phải) đang ngồi ở vỉa hè nên Y Sa V và Y H đi đến chỗ ông L xin thuốc lá để hút. Quá trình xin thuốc lá, thì Y Sa V và Y H phát hiện ông L cất tiền trong v da màu đen nên Y Sa V nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của ông L. Sau đó, Y Sa V rủ Y H cùng tham gia thì Y H đồng ý, Y Sa V và Y H đi đến chỗ ông L giả vờ xin thuốc lá, trong lúc ông L lấy thuốc lá thì Y H d ng tay gi t v da của ông L đang để trên đ i phải (bên trong có số tiền 1.900.000 đồng) rồi c ng Y Sa V chạy thoát. Trong quá trình bỏ chạy, Tiền ở trong v da bị rơi một ph n ra đường nhưng Y Sa V và Y H không nhặt. Khi Y Sa V và Y H chạy đến khu vực trước số nhà 72 Y Nuê, phường Ea Tam, thành phố Buôn Ma Thuột, thì dừng lại kiểm tra v da, phát hiện bên trong có số tiền 650.000 đồng nên Y Sa V cất số tiền vào túi qu n và vứt bỏ v da tại khu vực vỉa hè đường Y Nuê, phường Ea Tam, thành phố Buôn Ma Thuột (chưa rõ vị tr ) và c ng Y H quay lại gặp Ph, B và H’ Nương. Số tiền cướp gi t được của ông L, Y Sa V sử dụng mua đồ ăn để ăn c ng B, Ph, H’ Nương tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản kết lu n giám định tâm th n theo trưng c u số 242/KLGĐ ngày 11/11/2022 của Trung tâm pháp y tâm th n khu vực Tây Nguyên, kết lu n:
Về y học: Trước, trong, sau ngày 03/6/2022 và hiện tại Nguyễn Văn L bị bệnh rối loạn tâm th n thực tổn (F09-ICD.10), giai đoạn sa sút + liệt ½ người bên phải (G81-ICD.10).
Về khả năng nh n thức và điều khiển hành vi: Trước, trong, sau ngày 03/6/2022 và hiện tại Nguyễn Văn L mất khả năng nh n thức và mất khả năng điều khiển hành vi.
Cáo trạng số: 131/CT-VKS-HS ngày ngày 20 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Y Sa V về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ lu t hình sự (BLHS).
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp lu t. Qua phân t ch, đánh giá t nh chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đồng thời đề c p các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đề nghị:
Tuyên bố: Bị cáo Y Sa V phạm tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS: Xử phạt bị cáo Y Sa V mức án từ 02 năm đến 03 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt t nh từ ngày chấp hành án.
- Về xử lý vật chứng: Không.
- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu c u.
+ Người bào chữa cho bị cáo tranh lu n: Hành vi của bị cáo cấu thành tội Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 BLHS là có căn cứ pháp lu t. Tuy nhiên về mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị là chưa ph hợp với t nh chất hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, vì bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số có nhân thân tốt và là người chưa thành niên, chưa có nh n thức đ y đủ về pháp lu t, thực hiện hành vi mang t nh bộc phát, bản thân bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 54 BLHS xử bị cáo mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt.
+ Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và mức hình phạt đã đề nghị đối với bị cáo và không có ý kiến tranh lu n gì thêm.
Bị cáo không tranh lu n gì thêm. Bị cáo nói lời nói sau c ng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nh n định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, theo quy định của Bộ lu t tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì và khiếu nại về hành vi của những người tiến hành tố tụng, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa, người bị hại và người có quyền lợi và ngh a vụ liên quan đều có đơn xin vắng mặt. Xét thấy quá trình điều tra những người này đều đã có lời khai, nội dung vụ án đã được làm rõ nên việc xét xử vắng mặt những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo Điều 292 Bộ lu t Tố tụng hình sự năm 2015 là ph hợp.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa cơ bản ph hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Qua đó có đủ căn cứ kết lu n: Do ý thức coi thường pháp lu t, coi thường quyền sở hữu tài sản của người khác nên vào khoảng 23 giờ 55 phút ngày 03/6/2022, tại trước số nhà 66 Y Nuê, phường Ea Tam, thành phố Buôn Ma Thuột, bị cáo Y Sa V c ng đồng bọn cướp gi t tài sản của ông Nguyễn Văn L là người bị liệt ½ người bên phải, mất khả năng nh n thức và mất khả năng điều khiển hành vi 01 v da màu đen, bên trong có số tiền 1.900.000 đồng. Hành vi của bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 BLHS là có căn cứ pháp lu t.
Đi m g kho n 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015 quy định:
“1. gười nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. hạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
..........................................................................................
g hạm tội đối với người không có khả năng tự vệ”.
Xét t nh chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại, gây hoang mang lo lắng trong qu n chúng nhân dân, làm mất tr t tự trị an tại địa phương nên c n áp dụng mức hình phạt tương ứng với t nh chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại; bị cáo là người chưa thành niên phạm tội và là người dân tộc thiểu số nh n thức pháp lu t còn nhiều hạn chế đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS nên c n giảm nhẹ hơn nữa một ph n hình phạt cho bị cáo thể hiện ch nh sách khoan hồng của pháp lu t Nhà nước ta.
Về xử lý v t chứng: Không.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các điều 46, 48 Bộ lu t hình sự; các điều 584, 585, 586, 589 Bộ lu t dân sự:
Sau khi sự việc xảy ra, bà H Tra H’Đơk, là bà ngoại của bị cáo Y Sa V và bà H W Niê là bà ngoại của Y H Niê mỗi người đã bồi thường cho ông Nguyễn Văn L số tiền 950.000 đồng. ng L đã nh n đủ số tiền trên và không yêu c u bồi thường gì thêm nên không xém xét
Nội dung khác:
Đối với Y H Niê là người c ng bị cáo Y Sa V thực hiện hành vi cướp gi t số tiền 1.900.000 đồng của ông Nguyễn Văn L. Quá trình điều tra xác định, tại thời điểm thực hiện hành vi Y H Niê chưa đủ 14 tuổi (13 tuổi 02 tháng 02 ngày) nên không cấu thành tội cướp gi t tài sản, quy định tại khoản 2 Điều 171 Bộ lu t hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, đã có Công văn đề nghị Ủy ban nhân dân phường Ea Tam, thành phố Buôn Ma Thuột, ra Quyết định xử phạt vi phạm hành ch nh bằng hình thức giáo dục tại xã phường, thị trấn, là ph hợp.
Đối với Hồ Gia B, Hồ Gia Ph và H’ N Niê không biết số tiền Y Sa V sử dụng mua đồ ăn là tiền phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột không đề c p xử lý, là ph hợp.
Về án ph : Bị cáo được miễn nộp án ph hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp lu t.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Y Sa V phạm tội “Cướp giật tài sản”.
2. Về điều luật và mức hình phạt: p dụng điểm g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 101 Bộ lu t hình sự: Xử phạt bị cáo Y Sa V 01 (một) năm 09 (ch n) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt t nh từ ngày chấp hành án
3. Về xử lý vật chứng: Không.
4. Về trách nhiệm dân sự: Không.
5. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph , lệ ph Tòa án.
Bị cáo được miễn nộp án ph hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp lu t.
n xử sơ thẩm bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ khi tuyên án. Người bị hại và người có quyền lợi ngh a vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nh n hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. ơi nhận:
| - Vụ Giám đốc kiểm tra I-TANDTC; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tp. Buôn Ma Thuột; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - CQCSĐT Công tp. Buôn Ma Thuột; - CCTHADS tp. Buôn Ma Thuột; - Sở tư pháp; - Phòng HSNVCA Đắk Lắk; - Bị cáo; Bị hại; Người liên quan; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN THỊ HỒNG THANH |