vanban.org

Bản án 134/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Bé S.

Về hôn nhân: Chị Lê Thị Bé S được ly hôn với anh Lê Quốc D. Về con chung: Giao con chung là Lê Quốc T, sinh ngày 10/9/2012, cháu Lê Phương N, sinh ngày 07/7/2015 cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Lê Thị Bé S - Lê Quốc D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Bé S.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG HỒ
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2023/HNGĐ-ST
Ngày 16/8/2023
V/v Xin ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Mai Ka

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thế Khoa

Bà Nguyễn Thị Út

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Cẩm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 16 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 262/2023/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2023 về việc “Xin ly hôn, nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 120/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 94/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 31 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Bé S, sinh năm 1991 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, thị trấn B, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

- Bị đơn: Anh Lê Quốc D, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp C, xã D, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 18/5/2023 cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Bé S trình bày:

Qua quen biết chị S và anh Lê Quốc D có tiến đến hôn nhân có đăng ký kết hôn theo giấy Chứng nhận kết hôn số 14, ngày 16/3/2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

Sau khi lấy nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh D thường xuyên nhậu nhẹt, cờ bạc, không lo chí thú làm ăn, không chăm lo cho gia đình, vợ con, chị S đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh D vẫn không thay đổi. Ngoài ra chị còn phát hiện anh D có mối quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài. Chị S đã ly thân với anh D khoảng 03 tháng nay, từ thời gian đó đến nay anh D vẫn không liên lạc và cũng không có ý định hàn gắn với chị.

Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Bé Sáu yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Quốc D.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Lê Quốc T, sinh ngày 10/9/2012, cháu Lê Phương N, sinh ngày 07/7/2015, hiện các con đang sống với chị S. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi các con, không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lê Quốc D vắng mặt không rõ lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ.

Ngày 10/7/2023 nguyên đơn chị Lê Thị Bé S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị S vẫn bảo lưu ý kiến theo Đơn khởi kiện và tại các biên bản hòa giải ở Tòa án.

Bị đơn anh Lê Quốc D vắng mặt tại phiên xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện, lời trình bày của đương sự. Kết luận, quan hệ tranh chấp về “Ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị Bé S có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Lê Quốc D đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần hai mà vẫn vắng mặt không rõ lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị S, anh D theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Lê Thị Bé S và anh Lê Quốc D chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo giấy Chứng nhận kết hôn 14, ngày 16/3/2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang nên đây là hôn nhân hợp pháp, phù hợp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của chị S: Chị S trình bày trong thời gian chung sống chị và anh D xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, tính tình không hòa hợp, anh D thường xuyên nhậu nhẹt, cờ bạc, không lo chí thú làm ăn, không chăm lo cho gia đình, vợ con. Ngoài ra chị S còn phát hiện anh D có mối quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài. Chị S đã cố gắng hàn gắn nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hai anh chị đã ly thân từ tháng 01/2023 đến nay.

Xét thấy anh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến Tòa án để tạo điều kiện cho hai bên hòa giải đoàn tụ nhưng anh vẫn vắng mặt và cũng không có mặt tại phiên xét xử. Trong quá trình ly thân chị S và anh D đều không có biện pháp hàn gắn hôn nhân, điều này thể hiện anh D không còn tha thiết đến hạnh phúc gia đình, không có thiện chí hoà giải đoàn tụ. Chị S xác định không còn tình cảm với anh D và kiên quyết ly hôn, chị và anh D cũng không còn tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng nên việc chị S yêu cầu ly hôn với anh D là có cơ sở. Căn cứ Điều 19, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận cho chị S được ly hôn với anh D.

Về con chung: Chị S và anh D có 02 con chung là cháu Lê Quốc T, sinh ngày 10/9/2012, cháu Lê Phương N, sinh ngày 07/7/2015. Xét cháu T và cháu N đã được chị S chăm sóc và nuôi dưỡng từ trước đến nay. Tại Biên bản làm việc ngày 21/6/2023 hai cháu cũng có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó để đảm bảo việc phát triển về mọi mặt của trẻ, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị S, giao cháu T, cháu N cho chị S tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị S không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc chị Lê Thị Bé S phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Bé S.

1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị Bé S được ly hôn với anh Lê Quốc D.

2. Về con chung: Giao con chung là Lê Quốc T, sinh ngày 10/9/2012, cháu Lê Phương N, sinh ngày 07/7/2015 cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Anh Lê Quốc D không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Lê Thị Bé S không yêu cầu anh Lê Quốc D phải cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị Bé S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Lê Thị Bé S phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005033 ngày 18/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Chị S đã nộp xong.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết./.

Cỡ chữ