vanban.org

Bản án 134/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 06/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Đức K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Đức K 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/3/2022. Tịch thu tiêu hủy 01 cổ chai bằng thủy tinh đã bị bể, có nắp màu xanh, có 02 đầu sắc nhọn và nhiều mảnh vở thủy tinh (theo biên bản giao nhận ngày 26/7/2022 hiện Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau quản lý). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Đức K - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Đức K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2022/HS-ST
Ngày 06 – 9 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Trung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Kha

Bà Cao Hồng Cẩm

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Luyến – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 114/2022/TLST-HS ngày 28/7/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2022/QĐXXST-HS ngày 15/8/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Đức K, sinh năm: 1955 tại Ninh Bình; nơi cư trú: Số 16, Lê Đại H, khóm 3, phường 6, thành phố C, tỉnh C; nghề nghiệp: Kinh doanh ô tô vận tải hành khách; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Đức T và bà Nguyễn Thị K1; vợ Trương Kim Q (đã ly hôn, là bị hại) và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 19/9/1985 Tòa án nhân dân tỉnh Minh Hải xử phạt Đỗ Đức K 03 năm tù về tội “Đầu cơ” theo bản án số 56/HS/ST; tạm giữ ngày 21/3/2022 đến ngày 24/3/2022 chuyển tạm giam; bị cáo bị tạm giam có mặt.

Bị hại: Bà Trương Kim Q, sinh năm 1968

Nơi cư trú: Số nhà 16, đường Lê Đại H, khóm 3, phường 6, thành phố C, tỉnh C (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Đỗ Đức K và bà Trương Kim Q là vợ chồng chung sống với nhau tại căn nhà số 16, đường Lê Đại H, khóm 3, phường 6, thành phố C do cha bà Q tặng cho, bà Q đề nghị để cho con tên Đỗ Đức K2 đứng tên nhà đất và mời cán bộ địa chính đến để làm thủ tục chuyển quyền sử dụng cho K2 nhưng bị cáo K không đồng ý nên giữa bị cáo K với bà Q xảy ra cự cãi với nhau. Khoảng 13 giờ ngày 25/01/2018, tại nhà ở của mình, bị cáo K và bà Q tiếp tục cự cãi việc làm giấy tờ nhà, khi bà Q đứng trước cửa phòng ngủ thì bất ngờ bị bị cáo K dùng chai rượu bằng thủy tinh đánh vào đầu bà Q làm chai rượu bị bể còn lại phần cổ chai, bị cáo K tiếp tục cầm phần cổ chai bị bể đâm nhiều cái vào vùng mặt và hai tay của bà Q gây ra nhiều vết thương cho bà Q. Sau khi gây thương tích cho bà Q, bị cáo K bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 21/3/2022 đến Cơ quan điều tra công an thành phố Cà Mau đầu thú.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 103/TgT ngày 10/5/2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh Cà Mau kết luận:

- 01 vết sẹo vùng trán phải, kích thước 7cm x 0,1cm, ảnh hưởng thẩm mỹ, do vật tày, vật tày có cạnh, vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh nhọn gây ra.

- 01 vết sẹo vùng môi trên bên phải, kích thước 9,5cm x 1cm, ảnh hưởng thẩm mỹ, do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh nhọn gây ra.

- 01 vết sẹo vùng cầm phải, kích thước 3cm x 0,1cm, ảnh hưởng thẩm mỹ, do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh nhọn gây ra.

- 01 vết sẹo đuôi mày trái, kích thước 1,5cm x 0,1cm, do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh nhọn gây ra.

- 01 vết sẹo vùng má trái, kích thước 4cm x 0,1cm, ảnh hưởng thẩm mỹ, do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh nhọn gây ra.

- 01 vết sẹo vùng mặt cạnh dái tai trái, kích thước 3cm x 0,1cm, ảnh hưởng thẩm mỹ, do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh nhọn gây ra.

- 01 vết sẹo 1/3 ngoài mi dưới mắt phải, kích thước 1cm x 0,1cm, do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh nhọn gây ra.

- 01 vết sẹo mặt mu bàn tay phải, kích thước 2,5cm x 0,1cm, do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh nhọn gây ra.

- 01 vết sẹo mặt mu đốt giữa ngón V bàn tay trái, kích thước 2cm x 0,2cm, do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh nhọn gây ra.

- 01 vết sẹo mặt lòng đốt giữa ngón II bàn tay trái, kích thước 0,6cm x 0,1cm, do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh nhọn gây ra.

- Mắt phải múc nhãn cầu lắp mắt giả, do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh nhọn gây ra.

- Nứt sọ vùng trán kích thước 75mm (đường nứt từ trán phải lên trên chếch qua trán trái) do vật tày, vật tày có cạnh gây ra.

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định tính theo Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12 tháng 6 năm 2014 của Bộ Y tế là 71%.

Tại Cáo trạng số 115/CT-VKS ngày 26/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C truy tố bị cáo Đỗ Đức K về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 4 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với Đỗ Đức K và đề nghị: Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Đỗ Đức K phạm tội “Cố ý gây thương tích”, xử phạt bị cáo Đỗ Đức K từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Tịch thu tiêu hủy 01 cổ chai bằng thủy tinh bị bể, nắp màu xanh, có 02 đầu sắc nhọn và nhiều mảnh vở thủy tinh.

Bị cáo Đỗ Đức K thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố, yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại Trương Kim Q yêu cầu Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do bị cáo đã bồi thường xong toàn bộ thiệt hại 100.000.000 đồng cho bà Q, vì vậy bà Q không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm về trách nhiệm dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Đức K khai nhận, xuất phát từ mâu thuẫn vợ chồng, bà Trương Kim Q – là vợ bị cáo có lời lẽ xúc phạm đối với bị cáo, nên khoảng 13 giờ ngày 25/01/2018, tại nhà ở của mình tọa lạc số nhà 16, đường Lê Đại Hành, khóm 3, phường 6, thành phố Cà Mau, bị cáo dùng chai thủy tinh đánh vào đầu bà Q, sau đó bị cáo dùng cổ chai của chai thủy tinh đã bị bể đâm nhiều cái vào vùng mặt và tay của bà Q, gây thương tích cho bà Q, sau khi bị gây thương tích bà Q được đưa đi bệnh viện điều trị, bị cáo bỏ trốn đến ngày 21/3/2022 đến Công an đầu thú.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo K là có cơ sở chấp nhận, bởi lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo K trong quá trình điều tra, truy tố, theo đó bị cáo khai nhận trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo không bị đánh, không bị ép cung, móm cung hay buộc bị cáo làm việc gì trái với ý muốn bị cáo, tại các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can là do bị cáo tự nguyện khai, chỉ do xuất phát từ mâu thuẫn vợ chồng, bị cáo dùng chai thủy tinh đánh vào đầu bà Q, dùng cổ chai của chai thủy tinh đã bị bể đâm nhiều cái vào vùng mặt và tay của bà Q, bị cáo xác định thương tích của bà Q do chính bị cáo gây ra. Lời khai nhận tội của bị cáo như trên xét thấy là phù hợp với lời khai của bị hại Q, phù hợp với vật chứng thu giữ được, và nhiều tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được chai thủy tinh, cổ chai của chai thủy tinh bị bể là vật cứng rắn, sắc bén, nếu dùng chai thủy tinh đánh vào đầu, dùng cổ chai của chai thủy tinh bị bể đâm vào vùng mặt và tay bà Q sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của bà Q, là vi phạm pháp luật, phải bị pháp luật hình sự xử lý nghiêm khắc. Thế nhưng chỉ vì mâu thuẫn vợ chồng mà bị cáo lại xem thường sức khỏe bà Q, bất chấp quy định pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Lẽ ra giữa bị cáo với bà Q là vợ chồng, phải có sự tôn trọng, thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, thế nhưng giữa bị cáo với bà Q không làm được, khi cự cải nhau bà Q có lời lẽ xúc phạm bị cáo, bị cáo dùng chai thủy tinh - là loại hung khí nguy hiểm, đánh vào đầu, sau đó dùng cổ chai của chai thủy tinh bị bể, đâm nhiều cái vào vùng mặt và tay của bà Q để gây thương tích cho chính vợ của mình với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 71%. Hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra như đã nêu trên đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố C truy tố bị cáo theo d khoản 4 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Xét tính chất, mức độ thực hiện tội phạm do bị cáo gây ra thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, bởi lẽ hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến sức khỏe của bà Q, vi phạm pháp luật hình sự, mà hành vi đó còn gây bất bình trong dư luận nhân dân, làm mất trật tự xã hội tại địa phương, ảnh hưởng xấu đến những giá trị văn hóa truyền thống của gia đình Việt Nam. Sau khi gây án cho bà Q, bị cáo không nhận thấy lỗi lầm, lại bỏ trốn nhằm trốn tránh sự trừng trị của pháp luật. Mặc khác, đối với bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 19/9/1985 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Minh Hải xử phạt bị cáo 03 năm tù về tội “Đầu cơ” theo bản án số 56/HS/ST, tuy lần phạm tội này không xem bị cáo là người có tiền án nhưng với tính chất, mức độ thực hiện tội phạm, cũng như xét về nhân thân của bị cáo, cần áp dụng hình phạt nghiêm để cải tạo bị cáo trở thành người tốt, đồng thời cũng để răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên khi lượng hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử có xem xét quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường xong các khoản chi phí điều trị cho bà Q là 100.000.000 đồng. Tại phiên tòa bà Q thừa nhận bản thân cũng có phần lỗi do có dùng lời lẽ xúc phạm đến bị cáo nên dẫn đến sự việc bị cáo gây thương tích cho bà Q, vì vậy bà Q có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, vì vậy Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo xét thấy là có căn cứ.

Trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường tổng chi phí điều trị cho bà Q 100.000.000 đồng, bà Q không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm bất kỳ khoản tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét về trách nhiệm dân sự.

Vật chứng: 01 cổ chai bằng thủy tinh bị bể, nắp màu xanh, có 02 đầu sắc nhọn và nhiều mảnh vở thủy tinh là vật liên quan trực tiếp đến tội phạm, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

n phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Các Điều 106, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Đỗ Đức K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Đức K 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/3/2022.

Tịch thu tiêu hủy 01 cổ chai bằng thủy tinh đã bị bể, có nắp màu xanh, có 02 đầu sắc nhọn và nhiều mảnh vở thủy tinh (theo biên bản giao nhận ngày 26/7/2022 hiện Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau quản lý).

n phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo Đỗ Đức K phải chịu 200.000 đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ