vanban.org

Bản án 134/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tuyên án 29/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị L bị truy tố và xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---------------
Bản án số: 134/2020/HSST
Ngày 29 tháng 9 năm 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Hoan

Bà Ngô Thị Thời

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quang Dũng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nhiệm - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 133/2020/HSST ngày 14 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị L, sinh năm 1976; ĐKHKTT và trú tại: thôn T, xã Thanh Giang, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 03/12; con ông Nguyễn Đắc Ph và bà Trần Thị Ng (Đều đã chết); chồng, con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: không.

Tạm giữ, tạm giam: không.

Hiện đang thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Công ty TNHH EB Hải Dương (Big C); người đại diện theo pháp luật: bà Lục Thị D, sinh năm 1986 – Giám đốc Công ty. Người đại diện theo ủy quyền: ông Phan Hoài Gi, sinh năm 1986; chức vụ: phụ trách an ninh siêu thị Big C thuộc Công ty TNHH EB Hải Dương; địa chỉ: phường Nhị Châu, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Đ H, sinh năm 1981. Địa chỉ: Số A phố Phan Đình Phùng, phường Cẩm Thượng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

2. Anh Vũ Anh Đ, sinh năm 1976, trú tại: thôn D, xã Tiên Thanh, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

3. Chị Tiêu Thị T, sinh năm 1992, trú tại: thôn L, xã Câm Chế, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 07/6/2020, Nguyễn Thị L và anh Vũ Anh Đ rủ nhau đi chơi ở siêu thị Big C thuộc công ty TNHH EB Hải Dương tại phường Nhị Châu, thành phố Hải Dương. L gửi xe máy nhãn hiệu YAMAHA Novo, màu nâu – vàng, biển số 30L9- 4353 mượn của chị Nguyễn Thị V (là chị gái của L ở cùng thôn) tại lán của siêu thị Big C và đi vào bên trong siêu thị. Khi đi đến khu vực trưng bày mỹ phẩm, thấy vắng người nên L nảy sinh ý định trộm cắp. L lấy các mỹ phẩm không gắn thiết bị chống trộm gồm: 02 lọ sữa tẩy trang L’ORE’AL GENTLE; 7 lọ sữa chống nắng dưỡng da SUNPLAY SKINAQUA CLEAR WHITE; 01 lọ kem chống nắng Biore’s UV WATERY ESENCE; 02 lọ sữa chống nắng Sunplay SKINAQUA Tone Up UV Milk cho vào giỏ hàng rồi đi đến khu vực bán hàng gia dụng nơi có ít người mua hàng và khuất camera an ninh cất giấu các mỹ phẩm trên vào trong bụng và áo ngực của mình. Để tránh sự nghi ngờ và phát hiện khi ra cửa thanh toán, L ra quầy bán thức ăn cho động vật lấy một gói thức ăn cho chó để vào giỏ hàng rồi đi tìm anh Đ ra về. Khi đến quầy thu ngân, L chỉ thanh toán tiền gói thức ăn cho chó mà không thanh toán tiền số mỹ phẩm cất giấu trong người rồi đi qua khu vực kiểm tra an ninh nhưng không bị phát hiện. Sau khi ra ngoài siêu thị, L bảo anh Đ ngồi quán nước đợi còn L vào lán lấy xe máy và bỏ số mỹ phẩm cất giấu trong người cho vào trong cốp xe máy. Thấy việc lấy trộm mỹ phẩm của siêu thị dễ dàng nên L tiếp tục nảy sinh ý định trộm cắp mỹ phẩm. L lại gửi xe máy vào lán của siêu thị rồi ra quán nước tìm anh Đ, rủ anh Đ vào siêu thị chơi tiếp và mua thêm đồ. Anh Đ đồng ý. Lần này, L lấy một giỏ hàng màu đỏ và đưa cho anh Đ cầm giỏ hàng. Cả hai đi đến quầy bán mỹ phẩm, L lấy 05 lọ nước hoa hồng L’ORE’AL WHITE PERFECT; 05 lọ tinh chất chống nắng Sunplay SKINAQUA Tone Up UV Essencen màu tím; 04 lọ sữa rửa mặt POND’S AGE MIRCLE; 02 lọ sữa rửa mặt sáng da POND’S FLAWLESS RADIANCE; 02 chiếc nhíp nhổ cán cong J-40, 01 lọ sữa dưỡng thể Le Vinnia Ritz và 02 lọ tinh chất chống nắng Sunphay SKINAQUA TONE Up UV Esence màu xanh cho vào giỏ hàng. Sau đó, L và anh Đ ra khu bán đồ gia dụng lúc trước. L bảo anh Đ muốn xem mặt hàng gì thì xem nên anh Đ đi ra ngoài còn L kéo giỏ hàng đi vào chỗ khuất, lấy số mỹ phẩm từ trong giỏ hàng cất giấu vào trong người. Sau khi cất giấu xong, L ra quầy bán hoa quả lấy một quả sầu riêng cho vào giỏ hàng rồi đi tìm anh Đ bảo ra về. Lúc này, khoảng 18 giờ 45 phút cùng ngày, khi đến quầy thu ngân, L chỉ thanh toán tiền một quả sầu riêng sau đó cả hai đến khu vực kiểm tra an ninh thì anh Phan Hoài Giao và anh Nguyễn Đ Hùng là nhân viên an ninh của siêu thị nghi ngờ yêu cầu L về phòng an ninh làm việc. Tại phòng an ninh, L đã tự giác lấy số mỹ phẩm đang cất giấu ở trong người giao nộp cho tổ an ninh của siêu thị, đồng thời giao nộp số mỹ phẩm cất giấu trong cốp xe máy biển số 30L9- 4353 để ở lán xe của siêu thị. Nhân viên an ninh của siêu thị đã trình báo sự việc với cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dương đến lập biên bản quản lý số mỹ phẩm L trộm cắp được của siêu thị gồm 33 sản phẩm cùng một xe máy nhãn hiệu YAMAHA Novo, màu nâu – vàng, biển số 30L9- 4353.

Tại Kết luận định giá tài sản số 64 ngày 30/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND TP. Hải Dương kết luận: Giá trị của 33 sản phẩm mỹ phẩm gồm: 05 lọ nước hoa hồng L’ORE’AL WHITE PERFECT, dung tích 200ml; 02 lọ sữa rửa tẩy trang L’ORE’AL GENTNE, dung tích 200ml; 04 lọ sữa rửa mặt POND’S AGE MIRACLE, khối lượng 100g; 01 lọ sữa dưỡng thể LeVinia Ritz, dung tích 250g; 07 lọ sữa chống nắng dưỡng da Sunplay SKINAQUA CLEAR WHITE, khối lượng 25g; 02 lọ sữa rửa mặt sáng da POND’S FLAWLESS RADIANCE, khối lượng 100g; 05 lọ tinh chất chống nắng Sunplay SKIN AQUA Tone Up UV Essence màu tím, khối lượng 50g; 02 lọ sữa chống nắng Sunplay SKIN AQUA Tone Up UV Milk, khối lượng 50g; 01 lọ kem chống nắng Biore’ UV WATERY ESSENCE khối lượng 50g; 02 lọ tinh chất chống nắng Sunplay SKINAQUA Tone Up UV Essence màu xanh, khối lượng 50g; 02 chiếc nhip nhổ cán cong J-40 chất liệu bằng sắt, kích thước 8,5 cm. Tổng giá trị là 4.044.500 đồng.

Tại bản cáo trạng số 132/VKS-HS ngày 11-9-2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố Nguyễn Thị L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị L khai nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự của UBND thành phố Hải Dương, xác định VKSND thành phố Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng.

Bị hại xin xét xử vắng mặt, đề nghị xét xử theo quy định phâp luật và không đề nghị bồi thường gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Về hình phạt chính:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Thị L từ 6 tháng đến 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Thị L cho địa phương nơi bị cáo cư trú và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: không xem xét.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Thị L không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội của Kiểm sát viên và nói lời sau cùng đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất..

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại xin xét xử vắng mặt; Quan điểm của Kiểm sát viên: Bị hại đã có lời khai trình bày tại cơ quan điều tra và xin xét xử vắng mặt, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Nguyễn Thị L tại phiên toà phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng tại cơ quan điều tra; vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ hơn 16 giờ đến 18 giờ 45 phút ngày 07/6/2020, tại siêu thị Big C thuộc công ty TNHH EB Hải Dương ở phường Nhị Châu, thành phố Hải Dương, Nguyễn Thị L có hành vi lén lút chiếm đoạt 33 sản phẩm mỹ phẩm các loại gồm: nước hoa hồng; sữa tẩy trang; sữa rửa mặt; sữa dưỡng thể; kem, sữa, tinh chất chống nắng và nhíp nhổ của quầy bán mỹ phẩm trong siêu thị của Công ty TNHH EB Hải Dương. Trong đó giá trị số mỹ phẩm L trộm cắp lần thứ nhất cất giấu ở cốp xe máy là 1.399.500 đồng; giá trị số mỹ phẩm L trộm cắp lần thứ hai là 2.645.000 đồng. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 4.044.500 đồng.

Bị cáo Nguyễn Thị L là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó của bị cáo Nguyễn Thị L đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Xác định quyết định truy tố của VKSND thành phố Hải Dương đối với bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự xã hội nên cần phải xử lý bị cáo theo pháp luật hình sự.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Về nhân thân: Nguyễn Thị L là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Về tình tiết tăng nặng: không có. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, HĐXX sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo Nguyễn Thị L là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, là người lao động, nhất thời phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng mức hình phạt có điều kiện cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Thị L chiếm đoạt tài sản không lớn, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Phan Hoài Gi là người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH EB Hải Dương đã nhận đủ tài sản là 33 sản phẩm mỹ phẩm cho Công ty và không yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô biển số 30L9- 4353 nhãn hiệu YAMAHA Novo, màu nâu – vàng, quá trình điều tra xác định chị Nguyễn Thị V là chủ sở hữu hợp pháp, chị V cho L mượn không biết L mượn xe dùng vào việc phạm tội nên cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị V là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với anh Vũ Anh Đ không bàn bạc và không biết việc L trộm cắp mỹ phẩm của siêu thị nên không có căn cứ xử lý là phù hợp.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dương, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 136; Điều 292; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc hội.

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về trách nhiệm hình sự:

- Hình phạt chính: Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị L 08 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 16 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị L cho Ủy ban nhân dân xã Thanh Giang, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

-Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại (vắng mặt) quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ