vanban.org

Bản án 134/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hà Đông, TP. Hà Nội Tuyên án 23/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội Cướp tài sản.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn D 08 (tám) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Điều 168. Tội cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội Cướp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 168 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2020/HS-ST
Ngày: 23/7/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Diệp Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thông

Ông Nguyễn Hồng Anh

- Tký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đào Xuân Thắng - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 92/2020/TLST - HS ngày 20 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Trần Văn D, sinh năm 1983. HKTT: Tổ 5, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Bố đẻ: Không xác định được; Con bà Đàm Thị X, sinh năm 1958; Có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1982 và 01 con sinh năm 2016; Danh chỉ bản số 249 lập ngày 26/3/2020 tại Công an quận H, thành phố Hà Nội. Tiền sự: không;

Tiền án: 02

1. Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2007/HSST ngày 05/01/2007, Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Hà Tây (nay là Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội) xử phạt 08 năm tù về tội: Cướp tài sản và 03 năm tù về tội Hiếp dâm. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 11 năm tù. Chấp hành xong hình phạt ngày 18/05/2015.

2. Bản án hình sự sơ thẩm số 206/2017/HSST ngày 25/09/2017, Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/11/2018.

Nhân thân: Ngày 12/12/2003, bị UBND tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội) ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục S, huyện B, Hà Nội.

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Chị Hoàng Thị Anh T, sinh năm 1982. HKTT: số 12, đường P, phường N, quận H, thành phố Hà Nội. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 17/05/2019, sau khi ăn trưa và uống rượu tại quán ăn của chị Đoàn Thị V, sinh năm1974 (HKTT: tổ 2, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội) tại khu vực chợ chiều M, phường Đ, quận H, Trần Văn D đi về nhà ở tổ 5, phường Đ. Do hết tiền chi tiêu nên D nảy sinh ý định đi cướp tài sản của người khác. Thực hiện ý định trên, D nhặt 01 khẩu súng nhựa ở bãi rác gần nhà, cho vào trong túi quần dài bên phải đang mặc và lấy 01 con dao (loại dao chặt) của gia đình dắt vào cạp quần phía trước bụng với mục đích dùng để đe dọa và cướp tài sản của người khác. D đi bộ từ nhà lên khu vực trại N thuộc phường Đ, quận H là khu vực vắng người qua lại để đợi có người đi qua sẽ cướp tài sản. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, chị Hoàng Thị Anh T, sinh năm 1982 (HKTT: Số 12, đường P, phường N, quận H, TP.Hà Nội) điều khiển xe máy đi từ nhà đến trường mầm non B thuộc tổ 14 phường Y, quận H, TP.Hà Nội. Khi chị T đi đến đoạn dốc Trại N thì D chặn đầu xe của chị T và bắt chị T phải cho D đi nhờ. Chị T không đồng ý cho D đi nhờ, D rút khẩu súng nhựa ra dọa “Không cho đi nhờ tao bắn”. Thấy vậy, chị T hoảng sợ đã để lại chiếc xe máy đang điều khiển nhãn hiệu Honda Click, sơn màu trắng- đen, BKS 30X6-xxxx, số khung RLHJF 1802-YA758759, số máy JF18E-0209624 chìa khóa điện vẫn cắm ở xe máy và bỏ chạy về phía cầu M, phường Đ. Sau khi chị T để lại xe bỏ chạy, D đã lấy chiếc xe của chị T và dắt chiếc xe đi về hướng đường T, phường P, quận H tìm nơi tiêu thụ. Khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày, khi D đang dắt xe đến khu vực trước cửa số nhà 201, đường T, thuộc tổ 2, phường P, quận H, TP. Hà Nội thì bị tổ công tác của Công an phường P phối hợp với Đội cảnh sát giao thông số 10, phòng PC08, Công an thành phố Hà Nội đang làm nhiệm vụ tại đây kiểm tra hành chính, do D không xuất trình được các giấy tờ tùy thân, các giấy tờ liên quan đến chiếc xe trên và khai nhận vừa cướp được chiếc xe trên nên tổ công tác đã lập biên bản và đưa D về trụ sở Công an để làm rõ. Tại Cơ quan công an, D đã xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi của mình.

* Tang vật thu giữ của Trần Văn D:

- 01 khẩu súng bằng nhựa màu đen, có ốp tay cầm màu xanh, dài 14cm, rộng 09 cm; 01 con dao bằng kim loại dài 29cm, lưỡi dao dài 18cm, cán dao dài 11 cm, bản rộng 9 cm, dao sắc cạnh một đầu là công cụ Trần Văn D đã sử dụng để đe dọa chị Hoàng Thị Anh T, chiếm doạt tài sản.

- 01 áo phông cộc tay màu vàng có chữ TOMMY ở cổ áo và sau lưng; 01 quần dài màu xám, bên phía đùi trái có chữ GIORIAMANI.

- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Click, sơn màu trắng-đen, BKS:30X6-xxxx, số khung RLHJF 1802-YA758759 số máy JF18E-0209624, đã qua sử dụng, là tài sản Trần Văn D đã chiếm đoạt của chị Hoàng Thị Anh T.

Ngày 22/05/2019, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H, xác định trị giá đối với 01 chiếc xe máy Honda Click BKS: 30X6-xxxx màu sơn trắng-đen, số khung RLHJF 1802-YA758759; số máy JF18E-0209624 đã qua sử dụng, là tài sản Trần Văn D đã chiếm đoạt của chị Hoàng Thị Anh T. Tại biên bản và Kết luận định giá tài sản số 112/KL-HĐĐG ngày 23/05/2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng quận Hà Đông, kết luận:

01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Click, màu sơn trắng-đen, BKS: 30X6-xxxx, số khung RLHJF 1802-YA758759, số máy JF18E-0209624 trị giá 11.000.00 đồng.

Quá trình điều tra xét thấy Trần Văn D có biểu hiện mắc bệnh tâm thần nên ngày 14/06/2019, Cơ quan CSĐT Công an quận H ra quyết định trưng cầu giám định số 366 trưng cầu giám định viên Viện giám định pháp y tâm thần Trung ương giám định tâm thần đối với Trần Văn D.

Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 334/KLGĐ ngày 21/09/2019 của Viện pháp y tâm thần trung ương, kết luận:

Trước, trong, sau thời điểm gây án (ngày 17/05/2019) và tại thời điểm giám định đối tượng Trần Văn D có bệnh động kinh toàn thể cơn lớn. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số G40.6. Tại các thời điểm trên đối tượng đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Ngày 19/12/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H đã ra quyết định xử lý vật chứng số 02 trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Click sơn màu trắng-đen, BKS:30X6-xxxx cho người bị hại là chị Hoàng Thị Anh T, chị T đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì khác.

Tại Cáo trạng số 93/CT-VKS-HS ngày 18/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Trần Văn D về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d, h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt

Đại diện Viện Kiểm Sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm d, h khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt Trần Văn D từ 08 đến 09 năm tù về tội Cướp tài sản.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì khác nên không xem xét. Đối với 01 khẩu súng bằng nhựa màu đen, 01 con dao bằng kim loại, 01 áo phông cộc tay màu vàng thu giữ của Trần Văn D không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hà Đông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Do không có tiền ăn tiêu nên khoảng 15 giờ 00 phút ngày 17/05/2019, tại khu vực Trại N, thuộc tổ 3, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội, Trần Văn D đã có hành vi dùng súng (nhựa) đe dọa khống chế và chiếm đoạt của chị Hoàng Thị Anh T 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Click, sơn màu trắng đen, BKS 30X6 -9214, đã qua sử dụng, trị giá 11.000.000 đồng.

Trần Văn D là người đã có 02 tiền án đều chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội, nên hành vi nêu trên của Trần Văn D đã phạm vào tội “ Cướp tài sản”, thuộc trường hợp “Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác” và “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm d, h khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Viện kiểm sát truy tố bị cáo Trần Văn D về tội “Cướp tài sản” được quy định tại d, h khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Vì vậy cần có mức hình phạt nghiêm khắc đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Về nhân thân: Bị cáo đã có 02 tiền án chưa được xóa án tích nhưng vẫn tiếp tục phạm tội là thể hiện sự coi thường pháp luật. Do vậy, cần có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra bị cáo đã đầu thú khai nhận hành vi của mình, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, thực sự ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên thấy áp dụng cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục và cải tạo đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có thu nhập ổn định nên thấy cần miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì khác nên không xem xét. 01 khẩu súng bằng nhựa màu đen, 01 con dao bằng kim loại là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và 01 áo phông cộc tay màu vàng thu giữ của Trần Văn D không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội Cướp tài sản.

Căn cứ điểm d, h khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ vào Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Khoản 1 Mục I, Danh mục án phí lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết:

1. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn D 08 (tám) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) khẩu súng nhựa màu đen, có ốp tay cầm màu xanh, dài 14cm, rộng 09 cm; 01 con dao bằng kim loại dài 29cm, lưỡi dao dài 18cm, cán dao dài 11 cm, bản rộng 9 cm, dao sắc cạnh một đầu và 01 áo phông cộc tay màu vàng có chữ TOMMY ở cổ áo và sau lưng; 01 quần dài màu xám, bên phía đùi trái có chữ GIORIAMANI.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/6/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an quận Hà Đông và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông).

4. Về án phí: Bị cáo Trần Văn D phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên toà được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

[

Cỡ chữ