vanban.org

Bản án 134/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 17/12/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Trvà anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: 1. Giao con chung Nguyễn Văn Tuấn Ph sinh ngày 24/8/2018 cho chị Phạm Thị Trtrực tiếp nuôi dưỡng.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Trvà anh Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 12 - 2020
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Ph

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hồ Bá V

Ông Trần Huy L

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Nh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 150/2020/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2020 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2020/QĐST ngày 11 tháng 11 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Tr sinh năm 1995; Địa chỉ: Khối 5, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Đề nghị vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1992; Nơi ĐKHKTT trước khi xuất cảnh: Khối 5, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Hiện đang cư trú tại: Cộng hòa liên bang Đức. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn đề ngày 28/9/2020, lời khai chị Phạm Thị Trtrình bày: Chị Tr và anh Nguyễn Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký ngày 08/11/2017 tại Ủy ban nhân dân Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn hai người chung sống hạnh phúc với nhau đến tháng 4/2019 anh T làm thủ tục xuất cảnh sang Cộng hòa liên bang Đức thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T không quan tâm đến vợ con và hai người cắt đứt mọi liên lạc, không quan tâm gì đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Nay xác định, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị Tr yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn anh Nguyễn Văn T để giải phóng cho chị.

- Về con chung: Chị Tr và anh Nguyễn Văn T có một con chung Nguyễn Văn Tuấn Ph sinh ngày 24/8/2018, hiện đang do chị Tr chăm sóc. Nếu ly hôn chị Tr xin được nuôi cháu, không yêu cầu anh T cấp dưỡng.

- Về tài sản chung; nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về phía anh Nguyễn Văn T: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi các văn bản tố tụng; Thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu anh Nguyễn Văn T có quan điểm về việc giải quyết vụ án; Quyết định đưa vụ án ra xử…cho anh Nguyễn Văn T thông qua ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Hồng S là bố mẹ của anh T, nhưng hiện anh Nguyễn Văn T vẫn vắng mặt và cũng không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ và đương sự tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của họ. Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, theo ông Nguyễn Văn Hà bố của anh T thì anh Nguyễn Văn T hiện đang lao động tại Cộng hòa liên bang Đức, mặc dù không có nơi cư trú cụ thể, nhưng anh T thường xuyên điện thoạivề cho ông H , bà S , nên anh T đã biết được việc chị Tr làm đơn ly hôn anh và không có ý kiến gì. Việc anh Nguyễn Văn T vắng mặt được xác định, cố tình giấu địa chỉ và không khai báo, do đó đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định và cho họ ly hôn nhau để giải phóng cho chị Tr và giao con chưa thành niên cho chị Tr tiếp tục nuôi dưỡng; tài sản chung chưa giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn T hiện đang ở nước ngoài, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, theo ông Nguyễn Văn H xác định thì, anh Nguyễn Văn T hiện đang lao động tại Cộng hòa liên bang Đức, mặc dù không biết nơi cư trú cụ thể, nhưng anh T thường xuyên điện thoại về cho ông H , bà S nên anh T đã biết được việc chị Tr xin ly hôn anh và cũng không có ý kiến gì. Do đó, việc anh Nguyễn Văn T vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ; từ chối khai báo theo quy định tại Công văn số 253/TATC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài không rõ địa chỉ.

Đối với chị Phạm Thị Trđã có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, nhưng do điều kiện, nên chị Tr đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 207, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án T hành giải quyết và xét xử vụ án theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.

Về nội dung: Tại phiên tòa, mặc dù vắng mặt, nhưng chị Phạm Thị Trvẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện, yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn T và nuôi con chưa thành niên. Xét thấy, chị Phạm Thị Trvà anh Nguyễn Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn hai người chung sống hạnh phúc với nhau đến tháng 4/2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm sống hai người không phù hợp nhau. Sau đó anh T làm thủ tục xuất cảnh sang Cộng hòa liên bang Đức lao động và cắt đứt mọi liên lạc, vợ chồng không quan tâm gì đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Nay chị Phạm Thị Trxác định, tình cảm vợ chồng không còn; mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho họ ly hôn để giải phóng cho chị Tr.

Về con chung: Chị Tr và anh T có một con chung Nguyễn Văn Tuấn Ph sinh ngày 24/8/2018, hiện cháu đang do chị Tr nuôi dưỡng. Anh T đang ở nước ngoài chưa có điều kiện để trực tiếp chăm sóc con chung, nên cần giao cho chị Tr tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Hiện chị Tr chưa yêu cầu và anh T cũng chưa có ý kiến nên Tòa án chưa xem xét. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Hiện tại chị Tr không yêu cầu giải quyết và anh Nguyễn Văn T cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

Về án phí: Chị Phạm Thị Trphải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 207; Khoản 3 Điều 228; Điều 147; Khoản 1, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 53, 56 và Điều 81, 82, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình. Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Trvà anh Nguyễn Văn T.

2. Về con chung:

2.1. Giao con chung Nguyễn Văn Tuấn Ph sinh ngày 24/8/2018 cho chị Phạm Thị Trtrực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Phạm Thị Trchưa yêu cầu và anh Nguyễn Văn T chưa có ý kiến nên Tòa án chưa xem xét. Anh Nguyễn Văn T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

4. Về án phí: Chị Phạm Thị Trphải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0000133 ngày 16/10/2020.

5. Về quyền kháng cáo:

5.1. Chị Phạm Thị Trcó quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc được tống đạt hợp lệ bản sao bản án sơ thẩm.

5.2. Anh Nguyễn Văn T đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được hoặc được niêm yết bản sao bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ