vanban.org

Bản án 134/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bà Phạm Thị H (Phan Thị H) được ly hôn ông Lê Văn C.

Về con chung: Giao các cháu Lê Thị Cẩm T, sinh ngày 07/02/2003 và Lê Thị Hồng H1, sinh ngày 09/8/2014 cho bà Phạm Thị H (Phan Thị H) được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lê Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Lê Văn C có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H (Phan Thị H); Bị đơn: Ông Lê Văn C."
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Phạm Thị H (Phan Thị H) được ly hôn ông Lê Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN D
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 17-11-2020
Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Duy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Văn Phú Hiên.

2. Bà Nguyễn Thị Nga.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lệ Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm C khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 257/2020/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2020, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 108/2020/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H (Phan Thị H), sinh năm 1972.

Địa chỉ: Tổ A, Ấp B, xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. “Có mặt”

Bị đơn: Ông Lê Văn C, sinh năm 1977.

Hộ khẩu thường trú: Tổ A, Ấp B, xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Nơi ở: Tổ 4, ấp Trang Hoàng, xã Bông Trang, huyện D, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. “Vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26/5/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị H (Phan Thị H) trình bày:

Về hôn nhân: Sau khi quen bết và tìm hiểu nhau một thời gian thì bà H và ông Lê Văn C kết hôn trên tinh thần tự nguyện, không bị ai ép buộc, được hai bên gia đình đồng ý, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long ngày 29/11/2001. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung tại xã C, huyện D một thời gian, sau đó chuyển về sống tại ấp Trang Hoàng, xã Bông Trang, huyện D. Vợ chồng chung sống H1 phúc đến năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, ông C không chăm lo làm ăn, thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn về nhà kiếm chuyện đánh đập bà H nhiều lần. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải, khuyên bảo nhưng không khắc phục được. Vợ, chồng đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay, mỗi người sống một nơi. Trong thời gian ly thân vợ chồng có gặp nhau để hàn gắn tình cảm nhưng vợ chồng không thể đoàn. Nay, bà H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không H1 phúc và mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà H được ly hôn ông C.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà H và ông C có 02 con chung tên là Lê Thị Cẩm T, sinh ngày 07/02/2003 và Lê Thị Hồng H1, sinh ngày 09/8/2014 hiện nay đang sống cùng bà H. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng các con chung, không yêu cầu ông C phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn – ông Lê Văn C vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án số 257/2020/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2020; các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, C khai chứng cứ và hòa giải, kèm theo giấy triệu tập ông C đến Tòa án để làm việc, nhưng ông C đều vắng mặt không có lý do và không có văn bản nào gửi cho Tòa án thể hiện ý kiến về nội dung vụ án. Tòa án căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng quy định pháp luật.

Đối với các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật; bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án là chưa chấp hành pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà H được ly hôn ông C. Về con chung, đề nghị giao cháu Lê Thị Cẩm T và cháu Lê Thị Hồng H1 cho bà H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng; ông C không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Tòa án nhân dân huyện D nhận định:

. Về tố tụng:

Ông Lê Văn C cư trú tại huyện D, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Lê Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia các phiên tòa sơ thẩm ngày 22/10/2020 và ngày 17/11/2020, nhưng ông Lê Văn C đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Lê Văn C theo quy định.

. Về hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 68/2001, ngày 29/11/2001 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long, xác định hôn nhân giữa bà H và ông C là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống H1 phúc đến năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau nên thường xuyên bất đồng trong cuộc sống. Hai bên đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay, không còn phụ thuộc nhau về tình cảm cũng như kinh tế. Nay, bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không H1 phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông C. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân của bà H và ông C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà H được ly hôn ông C theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

. Về con chung: Xét yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng các con chung của bà H thấy rằng, hiện nay các cháu Lê Thị Cẩm T và Lê Thị Hồng H1 đang sống với bà H, đồng thời cháu T có nguyện vọng được ở với bà H nếu bà H và ông C ly hôn. Vì vậy, giao cháu T và cháu H1 cho bà H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu nên ông C không phải cấp dưỡng nuôi con.

. Về tài sản và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì nguyên đơn là bà H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Bà Phạm Thị H (Phan Thị H) được ly hôn ông Lê Văn C.

2. Về con chung: Giao các cháu Lê Thị Cẩm T, sinh ngày 07/02/2003 và Lê Thị Hồng H1, sinh ngày 09/8/2014 cho bà Phạm Thị H (Phan Thị H) được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lê Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Lê Văn C có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

3. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Bà Phạm Thị H (Phan Thị H) phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008401 ngày 26 tháng 5 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà Phạm Thị H (Phan Thị H) đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ