- Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ VĂN M CƯỚP GIẬT TÀI SẢN - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn M phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 134/2018/HS-ST Ngày: 18/6/2018 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG
Thành phần Hội đồng xét xử hình sự sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán: Chủ tòa phiên tòa: Lê Thị Liên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Huy Liên
Ông Nguyễn Đức Đẹp
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Hồng Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang: Ông Lê Hoàng Long - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 178/2018/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số147 /2018/HSST-QĐ ngày 04 tháng 6 năm 2018, đối với bị cáo:
Họ và tên: LÊ VĂN M - Sinh năm: 1975 (Tên gọi khác: Út Em, Minh Nhí, Trần Văn Dũng, Nguyễn Văn Thành).
Nơi cư trú: Không có nơi cư trú rõ ràng, (những nơi đã sinh sống: Khu kinh tế mới Nhiễu Giang, Sông Hinh, tỉnh Phú Yên; Ninh Diêm, Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; số 15 Vạn Hòa, Vạn Thạnh, Nha Trang…); trình độ văn hóa: Không biết chữ; nghề nghiệp: không có; con ông Lê Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị C (đã chết);
Tiền án:
Bản án hình sự phúc thẩm số 610 ngày 03/01/1994 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cáo tại Đà nẵng xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. Ngày 20/5/1997 bỏ trốn khỏi trại giam A2 Đồng Găng (lấy tên Lê Văn M)
Bản án hình sự sơ thẩm số 59/HSST ngày 21/01/1998 của Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/3/1998. (lấy tên Nguyễn Văn T)
Bản án hình sự sơ thẩm số 109/HSST ngày 23/10/1998 của Tòa án nhân dân Tỉnh Khánh Hòa xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản của người nước ngoài”, 05 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản công dân”, 02 năm tù giam về tội “Trốn khỏi nơi giam giữ”, tổng hợp hình phạt chung của ba tội là 11 năm tù giam. Tổng hợp hình phạt chưa chấp hành của bản án HSPT số 610 ngày 03/01/1994 của Tòa phúc thẩm tòa án nhân dân tối cao tại Đà nẵng là 08 tháng 18 ngày. Tổng hợp hai bản án, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 11 năm 08 tháng 18 ngày, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/01/1998. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/7/2009.(lấy tên Lê Văn M)
Bản án hình sự sơ thẩm số 77/HSST ngày 23/08/2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt 07 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/10/2017.
Bị cáo bị bắt giam từ ngày 30/12/2017 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Đoàn Thị Trúc T; địa chỉ (ĐKHK): 125/12 Phương S, , Nha Trang; vắng mặt
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: 1/ Phan Thị H; địa chỉ: Tổ 12, Vĩnh H, Ngọc H, Nha Trang; vắng mặt 2/ Bùi Ngọc Th: địa chỉ: đường S, Khánh Đ, Khánh V, Khánh Hòa; vắng mặt 3/ Nguyễn Thanh H; địa chỉ: 02 Quang T, Nha Trang; vắng mặt
- Người làm chứng: 1/ Lê Thị Thanh T; địa chỉ: 125/12 Phương S, Phương S, Nha Trang; vắng mặt 2/ Trần Lê Thuận; địa chỉ: Tổ 35 Hòn C, Vĩnh P, Nha Trang; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ ngày 30/12/2017 Lê Văn M điều khiển xe máy hiệu Yamaha Sirius BKS: 79N1 – 2334 màu trắng đi đến bệnh viện Lao tỉnh Khánh Hòa. Khi đến đoạn ngã 3 đường 2/4 – Hòn C, phường Vĩnh P, Nha Trang, Minh phát hiện thấy chị Lê Thị Thùy T đang điều khiển xe máy hiệu Attila cùng chiều có chở chị Đoàn Thị Trúc T ngồi sau, trên cổ chị T có đeo một sợi dây chuyền kim loại màu vàng. M điều khiển xe máy tăng tốc, áp sát vào phía bên phải của chị T, rồi dùng tay trái giật sợi dây chuyền trên cổ chị T. Do không giữ được thăng bằng nên xe của M bị ngã xuống đường, chị T và chị T liền xuống xe bắt giữ M thì M bỏ chạy. Chị T, chị T và anh Trần Lê Th là người đi đường cùng đuổi theo M vào công viên Cao Văn Bé. M nhặt 01 viên đá cầm trên tay đe dọa những người đuổi bắt nhưng vẫn bị khống chế, bắt giữ giao cho cơ quan công an giải quyết. Quá trình điều tra Lê Văn M đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Bản kết luận định gía tài sản số 01/HĐĐG ngày 05/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Nha Trang kết luận: 01 dây chuyền vàng 16k dạng bi, hai màu, trọng lượng 7,18 chỉ và 01 mặt dây chuyền vàng 16K trọng lượng 3,19 có tổng giá trị là: 26.759.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 94/KSĐT-XXSTHS ngày 19/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang đã truy tố bị cáo Lê Văn M về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại Điểm b, c, d Khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Văn M và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, c, d khoản 2 Điều 136; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Lê Văn M từ 04 đến 05 năm tù.
Tại phiên tòa bị cáo trình bày: Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Nha Trang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người bị hại và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Cướp giật tài sản ” theo điểm b, c, d Khoản 2 Điều 136 Bộ của Luật hình sự 1999. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang đã truy tố bị cáo về hành vi và tội danh nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, thực hiện hành vi phạm tội trong trường hợp tái phạm nguy hiểm, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp và dùng thủ đoạn nguy hiểm. Đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm p Khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ Luật hình sự năm 1999, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên tách ra để giải quyết bằng vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu.
. Về xử lý vật chứng: 01 cục san hô rộng khoảng 05 cm là vật chứng vụ án không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/3/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1.Tuyên bố bị cáo Lê Văn M phạm tội “Cướp giật tài sản”.
2. Căn cứ điểm b, c, d khoản 2 Điều 136; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 với bị cáo Lê Văn M
Xử phạt bị cáo Lê Văn M 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 30/12/2017
3. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên tách ra để giải quyết bằng vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Tịch thu tiêu hủy 01 cục đá san hô rộng khoản 05cm (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/3/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang).
5. Về án phí: Bị cáo Lê Văn M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án hình sự trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -TAND Tỉnh Khánh Hòa ; -Chi cục THADS Tp Nha Trang ; - Sở Tư pháp Tỉnh Khánh Hòa ; - CATp.Nha Trang; - VKSND Tp.Nha Trang; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Liên |