vanban.org

Bản án 134/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 26/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Quốc Bảo phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân Quốc B 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2018. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyen xuan quoc bao - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Quốc Bảo phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2018/HS-ST
Ngày: 26/4/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B

TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Phước Tiến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Doãn Đức

Bà Nguyễn Thị Nhạn

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Kim Hải – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh – Kiểm sát viên

Trong ngày 26 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 102/2018/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo: Nguyễn Xuân Quốc B, sinh năm 1990, tại Đồng Nai. Nơi cư trú: 160A/36, tổ 18, ấp A, xã H, TP. B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Phụ hồ; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa: Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Xuân Đ (đã mất năm 2012) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1950; Vợ: Củ Nhục K, sinh năm 1987; Có 02 con (2008 – 2013); Tiền sự: Không; Tiền án: Tại bản án số 77/2014/HSST ngày 18/02/2014, bị Tòa án nhân dân TP. B, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bị bắt: 10/01/2018 (Có mặt).

- Người bị hại: Chị Trần Thị N1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn G, xã P, huyện B, tỉnh Ninh Thuận. Chỗ ở hiện nay: tổ 16, ấp A, xã H, TP. B, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 10/01/2018, Nguyễn Xuân Quốc B đi bộ đến khu vực tổ 16, ấp A, H, TP. B, tìm kiếm nhà nào sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi qua tiệm bán trái cây của chị Trần Thị N1; Bảo phát hiện có 01 chiếc xe mô tô hiệu Suntan, biển số 85R9-9391 của chị N1 đang dựng bên hông nhà; chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa, đồng thời quan sát thấy không có người trông coi nên B nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên. B đi tới ngồi lên xe và đẩy chiếc xe đi khoảng 03m rồi nổ máy xe nhưng không được thì bị chị N1 phát hiện nên tri hô cùng mọi người bắt giữ Bảo giao Công an xã H lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. H xử lý.

Vật chứng thu giữ:

+ 01 xe mô tô hiệu Suntan màu xanh, biển số 85R9-9391 của chị Trần Thị N1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. B đã trả cho chủ sở hữu.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 02/TCKH-HĐĐG ngày 17/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B đã định giá và kết luận: “01 xe mô tô hiệu gắn máy biển số 85R9-9391 có giá trị định giá là 1.650.000đ.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 108/CT-VKSBH ngày 22/3/2018 của Viện kiểm Sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân Quốc B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Quốc B mức án từ 06 đến 08 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân Quốc B đã khai nhận vào khoảng 13 giờ ngày 10/01/2018, tại tổ 16, ấp A, xã H, TP. B, lợi dụng sự sơ hở của chị Trần Thị N1 đang dựng chiếc xe xe mô tô hiệu Suntan biển số 85R9-9391 bên hông nhà, đồng thời có cắm sẵn chìa khóa xe ở ổ khóa, không có người trông coi nên bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp chiếc xe trên thì bị chị N1 phát hiện tri hô cùng mọi người bắt giữ cùng tang vật giao Công an xã H lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để điều tra, xử lý.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 02/TCKH-HĐĐG ngày 17/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Biên Hòa đã định giá và kết luận: “01 xe mô tô hiệu gắn máy biển số 85R9-9391 có giá trị định giá là 1.650.000đ.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân Quốc B đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố và viện dẫn.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác là khách thể được pháp luật bảo vệ, không những làm ảnh hưởng đến cuộc sống của người bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương. Đồng thời, do bị cáo có tiền án tại bản án số 77/2014/HSST ngày 18/02/2014, bị Tòa án nhân dân TP. B, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích; sau khi chấp hành xong hình phạt về địa phương nhưng bị cáo không chịu làm ăn lương thiện nay lại tiếp tục phạm tội mới đã phạm vào tình tiết định khung quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, thể hiện bị cáo là đối tượng liều lĩnh, có thái độ xem thường pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là rất kém. Do vậy, đối với bị cáo cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm mục đích giáo dục cải tạo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo là không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại và tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe 01 xe mô tô hiệu Suntan màu xanh, biển số 85R9-9391 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Trần Thị N1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. B đã trả cho chủ sở hữu.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 41/2017/NQ-QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về hướng dẫn thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Quốc Bảo phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân Quốc B 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2018.

2. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về xử lý vật chứng:

+ Đối với chiếc xe 01 xe mô tô hiệu Suntan màu xanh, biển số 85R9-9391 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Trần Thị N1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. B đã trả cho chủ sở hữu.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Xuân Quốc B phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Riêng người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ