vanban.org

Bản án 134/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thúy Xlà được ly hôn với anh Nguyễn Thanh N.

Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Giao cháu Nguyễn Thúy V sinh ngày 25/9/2012 cho chị Nguyễn Thị Thúy Xtrực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (cháu Thúy Vân đang sống chung với chị Xuyên). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thúy Xlà được ly hôn với anh Nguyễn Thanh N.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 134/2018/HNGĐ-ST
Ngày 30/10/2018.
Về việc: “Tranh chấp về Ly hôn; Nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN

- Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Huy Hùng;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Thanh Liêm;

2. Bà Lê Thị Thường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dự; Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham dự phiên tòa: Không tham gia.

Vào ngày 30 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, An Giang mở phiên tòa xét xử công khai vụ kiện Hôn nhân gia đình thụ lý số 325/2018/TLST-HNGĐ ngày 18/9/2018, về việc “Tranh chấp về Ly hôn; Nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 402/2018/QĐST-HNGĐ ngày 11/10/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy X, sinh năm 1988;

Nơi cư trú: Ấp T, xã V, huyện S, An Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh N, sinh năm 1982;

Nơi cư trú: Ấp T, xã V, huyện S, An Giang.

(Các đương sự đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy Xngày 07/9/2018 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà có nội dung như sau: Chị Nguyễn Thị Thúy Xsống chung với anh Nguyễn Thanh N từ năm 2005 và đó có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Phú (số 61 ngày 03/11/2008); Thời gian đầu chung sống hạnh phúc và có 02 con chung tên Nguyễn Thành Nsinh ngày 28/11/2006 và Nguyễn Thúy V sinh ngày 25/9/2012. Đến năm 2015 thì vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Nhàn thường hay gây gỗ và đánh đập vợ con, hiện tại không còn tình cảm với chồng nên đã sống ly thân nhau.

Nay chị Nguyễn Thị Thúy Xyêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thanh N; Về con chung yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Thúy V và thống nhất giao cháu Nguyễn Thành Ncho anh Nguyễn Thanh N nuôi dưỡng, không bên nào cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

* Theo bản khai của bị đơn anh Nguyễn Thanh N ngày 26/9/2018 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa có nội dung như sau: Anh Nguyễn Thanh N thừa nhận có sống chung với chị Nguyễn Thị Thúy Xtừ năm 2005, có đám cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND xã Vĩnh Phú, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có với nhau 02 con chung tên Nguyễn Thành Nvà Nguyễn Thúy V như phía vợ trình bày. Vợ chồng sống chung không có mâu thuẫn gì lớn, thời gian gần đây vợ chồng thường hay cự cãi do vợ tự ý mọi việc mà không hỏi ý kiến hoặc không có sự thống nhất của vợ chồng.

Nay vợ Nguyễn Thị Thúy Xyêu cầu ly hôn thì anh Nguyễn Thanh N không đồng ý do vẫn còn thương vợ con, mong hàn gắn và chung sống để chăm sóc các con; Về quan hệ con cái và tài sản: Không tranh chấp hay yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện và được thẩm tra tại phiên tòa, qua tranh luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận xét như sau:

Về tố tụng: Đây là tranh chấp hôn nhân gia đình về Ly hôn, nuôi con; Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy Xvà anh Nguyễn Thanh N đã thừa nhận có sống chung như vợ chồng từ năm 2005 và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật; Nay do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp nên chị Nguyễn Thị Thúy Xxin được ly hôn với anh Nguyễn Thanh N. Xét thấy, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Cuộc sống hôn nhân vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, trở thành một tế bào của xã hội, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa chị Xuyên và anh Nhàn xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại, thực tế anh chị không còn quan tâm và chăm sóc lẫn nhau và cả hai đã sống ly thân nhau. Như vậy, quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Thúy Xvà anh Nguyễn Thanh N đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình 2014 cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thúy Xlà được ly hôn với anh Nguyễn Thanh N.

Về quan hệ con cái: Chị Nguyễn Thị Thúy Xvà anh Nguyễn Thanh N thừa nhận có 02 con chung tên Nguyễn Thành Nvà Nguyễn Thúy V, sau khi ly hôn thì chị Xuyên có yêu cầu được nuôi con gái Nguyễn Thúy V và đồng thời giao cháu Nguyễn Thành Ncho anh Nhàn chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy, cháu Nguyễn Thúy V là con gái nên cần sự chăm sóc của người mẹ và phù hợp với tâm lý của cháu, riêng cháu Nguyễn Thành Ncó nguyện vọng muốn sống với cha, trong khi đó phía anh Nguyễn Thanh N không có ý kiến phản đối hay tranh chấp trong việc nuôi con nên căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật HNGĐ năm 2014 cần chấp nhận theo yêu cầu của chị Xuyên là được trực tiếp nuôi cháu Thúy Vân, đồng thời giao cháu Nguyễn Thành Ncho anh Nguyễn Thanh N chăm sóc, theo dõi và giáo dục; Đồng thời, các bên phải tạo điều kiện cho nhau được thăm nom và chăm sóc con theo quy định pháp luật.

Về quan hệ cấp dưỡng: Do các bên không yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con và tranh chấp về tài sản nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét. Tuy nhiên, khi điều kiện kinh tế thay đổi thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và yêu cầu việc cấp dưỡng.

Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Do chị Nguyễn Thị Thúy Xcó yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Thanh N nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của luật Hôn nhân gia đình 2014; Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điểm a khoản 5 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Xử:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thúy Xlà được ly hôn với anh Nguyễn Thanh N.

+ Về quan hệ con cái, cấp dưỡng:

- Giao cháu Nguyễn Thúy V sinh ngày 25/9/2012 cho chị Nguyễn Thị Thúy Xtrực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (cháu Thúy Vân đang sống chung với chị Xuyên).

- Giao cháu Nguyễn Thành Nsinh ngày 28/11/2006 cho anh Nguyễn Thanh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (cháu Nhân đang sống chung với anh Nhàn).

- Chị Nguyễn Thị Thúy Xvà anh Nguyễn Thanh N không phải cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, phải tạo điều kiện cho nhau được thăm con theo quy định pháp luật.

+ Về quan hệ tài sản: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

+ Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thúy Xphải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo phiếu thu số 0009013 ngày 18/9/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, An Giang; Được khấu trừ nên chị Nguyễn Thị Thúy Xđã nộp xong.

Báo cho đương sự có mặt tham dự phiên tòa biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án (có lý do chính đáng) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt bản án hợp lệ.

Cỡ chữ