- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tòng Văn Tiên Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 199…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tòng Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 134/2017/HS-ST Ngày 27-9-2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Hương;
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lò Văn Minh;
2. Ông Quàng Văn Hặc;
- Thư ký phiên toà: Bà Cà Thị Giang, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Ông Bùi Tiến Bình, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 140/2017/HS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:
1. Tòng Văn T (Tên gọi khác: không); Sinh ngày 01/01/1993 tại Sơn La; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản P, xã C, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Dân tộc: Thái; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông Tòng Văn H (đã chết); Con bà Tòng Thị Ư, sinh năm 1964; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2017 đến nay, có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 01/6/2017, Tòng Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave& màu xanh, biển kiểm soát 26B1-0579 (T mượn của anh Nguyễn Chí Th, ông Th mượn lại xe của ông Nguyễn Thanh H) từ nhà đến khu vực ngã ba điện lực thuộc tổ 10, phường Q, thành phố Sơn La, mục đích tìm mua ma túy về sử dụng và nếu có ai hỏi mua thì bán. Tại đây T gặp và mua được 03 viên hồng phiến của một người nam thanh niên không biết tên, tuổi và địa chỉ với giá 250.000đ(Hai trăm năm mươi ngàn đồng). Sau đó T vào đi vào ngõ và sử dụng hết 01 viên, còn 02 viên T gói vào tờ giấy bạc, rồi cho vào điếu thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, sau đó điều khiển xe đi về nhà. Khi đến khu vực Cầu Trắng thì có Nguyễn Mạnh H gọi điện thoại hỏi mua ma túy. T đồng ý bán cho H 02 viên hồng phiến với giá 200.000đ(Hai trăm ngàn đồng). Tiên hẹn gặp H ở tổ 11, phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La. Khi T và H đang trao đổi mua bán ma túy cho nhau thì bị Công an thành phố Sơn La phát hiện, lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
Cơ quan Công an thành phố Sơn La thu giữ được vật chứng gồm: 01 điếu thuốc lá Thăng Long, bên trong có 01 gói giấy bạc chứa 02 viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Mạnh H (H khai nhận là ma túy vừa mua của Tòng Văn T), kết quả cân tịnh 02 viên nén màu hồng có trọng lượng 0,20 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định ma túy, ký hiệu TH; thu giữ số tiền 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) của Tòng Văn T (T khai vừa bán ma túy cho H); 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1202 màu xanh đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave& màu xanh biển kiểm soát 26B1-0579.
Tại Kết luận giám định số: 556/KLMT/ngày 04/6/2017 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu TH là chất ma túy, loại chất Methamphetamin; trọng lượng của mẫu gửi giám định là 0,20 gam; Không hoàn lại mẫu vật gửi giám định”.
Tại bản Cáo trạng số 107/KSĐT ngày 08 tháng 9 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Tòng Văn T về tội: Mua trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Tòng Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại phiên toà, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tòng Văn T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Tòng Văn T từ 24(Hai mươi bốn) tháng đến 30(Ba mươi) tháng tù;
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự do bị cáo là người mắc nghiện ma túy, thu nhập thấp, gia đình bị cáo không có tài sản gì có giá trị, bị cáo không có tài sản riêng;
Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1202 số Imei 5 số cuối 09121, không có nắp pin, đã qua sử dụng và 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tịch thu tiêu hủy 01 chiếc phong bì viền xanh đỏ đã niêm phong mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Tòng Văn T mua bán trái phép chất ma túy bắt ngày 01/6/2017 gồm 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + một điếu thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long + một mảnh giấy bạc” theo Điều 41 Bộ luật hình sự, điểm a,đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave& màu xanh biển kiểm soát 26B1-0579, do ông Th mượn của ông H, sau đó ông Th cho bị cáo mượn lại, cả ông Th và ông H đều không biết việc bị cáo mượn xe để đi mua ma túy, nên chấp nhận việc cơ quan điều tra Công an thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã trả xe cho ông Nguyễn Thanh H do không liên quan trong vụ án.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định tại Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Ý kiến của bị cáo nhất trí như Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát đối với bị cáo tại phiên toà. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào Nghị án, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất trong khung hình phạt để sớm được trở về với gia đình và cộng đồng và làm ăn lương thiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi của bị cáo: Vào ngày 01/6/2017, Tòng Văn T đã có hành vi bán trái phép 0,20 gam Methamphetamin cho Nguyễn Mạnh H để lấy 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) mục đích kiếm lời, thì bị tổ công tác Công an thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La phát hiện và bắt quả tang. Hành vi nêu trên của Tòng Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự, như Quyết định truy tố và quan điểm luận tội tại phiên tòa của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Tại Điều 194 Bộ luật Hình sự quy định:
1.“Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm ”.
5.“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.
Xét hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo với số lượng mua bán ma túy không lớn, mục đích sử dụng và bán kiếm lời. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, làm phát sinh, lây lan các tệ nạn xã hội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, gây mất trật tự an ninh và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo đã được giáo dục, biết rõ tác hại của ma tuý đối với con người và đời sống xã hội, song vẫn cố tình phạm tội. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng do cố ý, nên cần áp dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ hai năm đến bảy năm tù đối với bị cáo.
Xét nhân thân bị cáo Tòng Văn T: không có tiền án tiền sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người làm ăn lương thiện, có ích cho xã hội. Cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật, giáo dục và phòng ngừa chung, nhất là công tác phòng, chống tội phạm ma tuý trong giai đoạn hiện nay. Bị cáo đang bị tạm giam, nay Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Ngoài hình phạt chính là phạt tù, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Song, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tài sản, không có thu nhập, là người nghiện ma tuý, không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với nguồn gốc 0,20 gam ma túy loại chất Methamphetamin, bị cáo khai nhận mua của một người đàn ông, không biết tên tuổi và địa chỉ nên không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án. Đối với Nguyễn Mạnh H có hành vi mua ma túy của Tòng Văn T mục đích để sử dụng, quá trình điều tra xác minh Nguyễn Mạnh H không có tiền án, không có tiền sự, số lượng ma túy ít chưa đủ căn cứ xử lý hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Mạnh H là thỏa đáng.
. Về vật chứng vụ án: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1202 màu xanh thu giữ của T (Đã qua sử dụng), là phương tiện bị cáo dùng liên lạc mua bán trái phép chất ma túy và 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là do bị cáo bán ma túy cho H mà có, xét cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước, cần tiêu hủy 01 chiếc phong bì viền xanh đỏ đã niêm phong mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Tòng Văn T mua bán trái phép chất ma túy bắt ngày 01/6/2017 gồm 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + một điếu thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long + một mảnh giấy bạc” theo Điều 41 Bộ luật hình sự, điểm a,đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận cơ quan điều tra Công an thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La trả 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave& màu xanh biển kiểm soát 26B1-0579 cho ông Nguyễn Thanh H do không liên quan trong vụ án.
. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tòng Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999: Xử phạt bị cáo Tòng Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ tạm giam (Ngày 01/6/2017).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; điểm a,đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1202 số Imei 5 số cuối 09121, không có nắp pin, đã qua sử dụng và 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 chiếc phong bì viền xanh đỏ đã niêm phong mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Tòng Văn T mua bán trái phép chất ma túy bắt ngày 01/6/2017 gồm 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + một điếu thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long + một mảnh giấy bạc” theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/9/2017 giữa Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Buộc bị cáo Tòng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Tòng Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND thành phố S; - CA thành phố S; - Trại giam Công an tỉnh Sơn La; - Chi cục THADS thành phố S; - THAPT; - Sở Tư pháp; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Thị Hƣơng |