- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lương Thị Nga - Trần Minh Định"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho Bà Lương Thị Nga được ly hôn với ông Trần Minh Định.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐÀ NẴNG -------- Bản án số: 133/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26/12/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| V/v: Ly hôn, tranh chấp con chung khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ái Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Mừng
2. Ông Nguyễn Đình Bạn
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Trang – Thẩm tra viên Toà án nhân dân Khu vực 11 - Đà Nẵng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Thu Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11 - Đà Nẵng tham xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXX-ST ngày 25 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lương Thị Nga, địa chỉ: Thôn Mỹ Hảo, xã Vu Gia, thành phố Đà Nẵng; có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Minh Định, địa chỉ: Thôn Mỹ Hảo, xã Vu Gia, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng.
- Người làm chứng:
1. Bà Lương Thị Liên, sinh năm 1956, địa chỉ: Thôn Mỹ Hảo, xã Vu Gia, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt
2. Bà Võ Thị Thanh Tiềm, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn Mỹ Hảo, xã Vu Gia, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 9 năm 2025 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Lương Thị Nga trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2011, bà Lương Thị Nga và ông Trần Minh Định tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đại Phong, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (cũ). Quá trình chung sống đến năm 2017, do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông Định cờ bạc, nợ nần nên giữa vợ chồng thường nảy sinh mâu thuẫn, cãi vã. Từ năm 2018, mâu thuẫn trở nên trầm trọng nên vợ chồng sống ly thân, bỏ mặc không quan tâm gì đến nhau. Ông Định bỏ đi khỏi nơi cư trú, cố tình giấu địa chỉ cư trú không cho bà Nga biết, ông Định chỉ liên lạc với con cái qua điện thoại. Nay bà Nga xét thấy hạnh phúc vợ chồng đã thực sự tan vỡ, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Minh Định để bà được tự do định đoạt cuộc sống riêng của mình.
Về con chung: vợ chồng có 01 cháu là Trần Minh Gia Hân (sinh ngày 06/9/2012), hiện đang sống với bà Nga. Nay ly hôn bà Nga yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hân cho đến khi cháu Hân đủ 18 tuổi. Bà Nga không yêu cầu ông Định cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung bà Nga khai không yêu cầu Tòa can thiệp.
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, bị đơn Trần Minh Định đã được tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và thông báo kết quả phiên họp, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng cố tình trốn tránh không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không tham gia giải quyết vụ án. Tại “Đơn trình bày” không đề ngày viết tay do ông Trần Minh Định gửi nhờ mẹ ruột là bà Lương Thị Liên và em dâu Võ Thị Thanh Tiềm giao nộp thay, ông Định trình bày: Ông Định và bà Nga kết hôn vào năm 2011. Vợ chồng có 01 con chung là cháu Trần Minh Gia Hân (sinh ngày 06/9/2012). Ông bà sống chung được 05 năm thì có nhiều bất đồng, không hạnh phúc. Nay bà Nga làm đơn xin ly hôn thì ông chấp thuận. Sau khi ly hôn ông Định đồng ý giao cháu Hân cho bà Nga trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng. Ông Định không có yêu cầu giải quyết tài sản chung.
Tại phiên tòa Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - Đà Nẵng phát biểu quan điểm:
Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định pháp luật.
Đối với nguyên đơn Lương Thị Nga thực hiện việc khởi kiện, cung cấp chứng cứ và thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình. Riêng đối với bị đơn Trần Minh Định dù đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác hợp lệ nhưng cố tình trốn tránh, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không tham gia giải quyết vụ án, vắng mặt tại phiên tòa hai lần không có lý do chính đáng là không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Nga và ông Định đã thật sự trầm trọng, tình yêu không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Nga được ly hôn với ông Định. Về con chung đề nghị giao cháu Trần Minh Gia Hân (sinh ngày 06/9/2012, đang sống với bà Nga) cho bà Nga trực tiếp chịu trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Hân đủ 18 tuổi. Bà Nga không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung bà Nga khai không yêu cầu Tòa can thiệp, ông Định vắng mặt không nêu ra ý kiến và yêu cầu nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu hiện có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bà Lương Thị Nga khởi kiện ly hôn đối với ông Trần Minh Định có hộ khẩu thường trú tại thôn Mỹ Hảo, xã Vu Gia, thành phố Đà Nẵng. Đây là vụ án tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp con chung khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 11 - Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về sự vắng mặt của bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Trần Minh Định đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ tham gia giải quyết vụ án nhưng cố tình trốn tránh, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không tham gia giải quyết vụ án. Tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn Trần Minh Định vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.
Về nội dung:
Xét quan hệ hôn nhân giữa bà Lương Thị Nga và ông Trần Minh Định thì thấy vợ chồng đã xác lập quan hệ hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đại Phong, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (cũ) vào năm 2011. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên khi giải quyết vụ án.
Xét thực trạng quan hệ hôn nhân của Ông Định, bà Nga thì thấy: Trong thời kỳ hôn nhân, giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, từ năm 2018 vợ chồng sống ly thân, bỏ mặc không quan tâm chăm sóc nhau. Bà Nga cho rằng tình cảm vợ chồng không còn nên cương quyết xin ly hôn. Ông Định cũng đồng ý ly hôn.
Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng ông Định, bà Nga đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã sống ly thân, không quan tâm chăm sóc nhau nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nga, xử cho bà Nga được ly hôn với ông Định là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung: Xét lời khai của bà Nga về quan hệ con chung phù hợp với các chứng cứ, tài liệu về hộ tịch và kết quả xác minh, thể hiện ông Định và bà Nga có 01 con chung là Trần Minh Gia Hân (sinh ngày 06/9/2012), hiện đang sống với bà Nga. Ông Định hiện không có mặt tại nơi cư trú, và đồng ý giao cháu Hân cho bà Nga tiếp tục nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà Nga về việc giao cháu Hân cho bà Nga trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp nên chấp nhận.
Mặc dù ông Định có đơn trình bày tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng nhưng không nêu rõ thời điểm bắt đầu, phương thức cấp dưỡng. Bà Nga không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, thực tế hiện tại bà Nga đủ năng lực và điều kiện nuôi con nên Hội đồng xét xử không buộc ông Định cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án bà Nga, ông Định khai không có yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bà Nga phải chịu án phí kiện xin ly hôn 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 147, 227, 228, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự
Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho Bà Lương Thị Nga được ly hôn với ông Trần Minh Định.
2. Về con chung: Giao cho bà Lương Thị Nga chịu trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Minh Gia Hân (sinh ngày 06/9/2012, hiện đang sống với bà Nga) cho đến khi cháu Hân đủ 18 tuổi.
Bà Lương Thị Nga không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Trần Minh Định có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai có quyền cản trở. Khi có lý do chính đáng các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Án phí kiện xin ly hôn số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng Bà Lương Thị Nga phải chịu, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng bà Nga đã nộp theo biên lai thu số 0002761 ngày 03/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
(Đã giải thích luật thi hành án dân sự).
| Nơi nhận: - TAND thành phố Đà Nẵng - VKSND Khu vực 11 – Đà Nẵng - UBND xã Vu Gia - Phòng THADS Khu vực 11 – Đà Nẵng - Các đương sự - Lưu hồ sơ | TM. HỘI ĐÔNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Ái Linh |