vanban.org

Bản án 133/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Sơn H về tranh chấp ly hôn với bị đơn bà Bùi Thị S.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trương Sơn H được ly hôn với bà Bùi Thị S. 2. Về con chung: Giao cháu Trương Bùi Tuấn M, sinh ngày 10/4/2010 cho bà S được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; Tạm thời ông H phải phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ (hai triệu đồng) … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ông H xin ly hôn với bà S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Sơn H về tranh chấp ly hôn với bị đơn bà Bùi Thị S.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – ĐỒNG NAI
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 15-9-2025
V/v tranh chấp “Ly hôn, tranh
chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐỒNG NAI, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh.

Bà Thiều Thị Phi Loan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Huế – Thư ký Tòa án nhân khu vực 1 - Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 1 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân khu vực 1 - Đồng Nai xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 881/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025 về việc tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2025 và quyết định hoãn phiên toà số 129/2025/QĐST- HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2025 giữa:

1. Nguyên đơn: Ông Trương Sơn H, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Số nhà S, tổ M, khu phố B, phường B, thành phố Biên Hoà, tỉnh, tỉnh Đồng Nai, (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai).

2. Bị đơn: Bà Bùi Thị S, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Tổ T, khu phố D, phường H, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai (nay là phường B, tỉnh Đồng Nai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án của nguyên đơn ông H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông H và bà S kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. (Nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2009. Hai vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp dẫn đến thường xuyên cãi vã, không hạnh phúc. Hai vợ chồng đã nhiều lần hòa giải nhưng không có kết quả, hiện nay ông H và bà S đã không còn chung sống với nhau. Nay ông H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với bà S.

Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Trương Bùi Tuấn M, sinh ngày 10/4/2010. Ly hôn ông H đồng ý giao cháu Tuấn cho bà S được trực tiếp nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ cho đến khi cháu Tuấn đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về quan hệ tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

- Bị đơn trình bày: Quá trình giải quyết vụ án bị đơn vắng mặt nên không có bản khai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 1 - Đồng Nai tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm.

Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý đến phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng; bị đơn đã thực hiện không đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử như sau: Đề nghị Hội đồng xét xử cho ông Trương Sơn H được ly hôn với bà Bùi Thị S. Về con chung: Giao cháu Trương Bùi Tuấn M, sinh ngày 10/4/2010 cho bà S trực tiếp nuôi dưỡng; Tạm thời ông H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ cho đến khi cháu Tuấn đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án ông H trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết, bị đơn vắng mặt không có ý kiến nên không đặt ra xem xét, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn ông H phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Ông Trương Sơn H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bà Bùi Thị S, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bà S hiện đang sinh sống tại địa chỉ: phường Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung.

Về quan hệ hôn nhân: Ông H và bà S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2009 nên áp dụng Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình tố tụng ông H trình bày về quan hệ hôn nhân hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, không tìm được tiếng nói chung. Hiện nay hai vợ chồng đã ly thân, không ai quan tâm chăm sóc cho ai nên tình cảm vợ chồng vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án hòa giải nhưng bà S vẫn không đến Tòa án để làm việc, như vậy thể hiện bà S không quan tâm đến hôn nhân với ông H. Qua xác M tình trạng hôn nhân giữa ông H và bà S tại được địa phương cung cấp thông tin giữa bà S và ông H có xảy ra mâu thuẫn hay không thì địa phương không nắm rõ. Như vậy, lời trình bày của ông H là phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà S đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xét chấp nhận yêu cầu của ông H xin ly hôn với bà S là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Ông H và bà S có 01 con chung là cháu Trương Bùi Tuấn M, sinh ngày 10/4/2010. Ly hôn ông H tự nguyện giao cháu Tuấn cho bà S được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án bà S không lên Tòa làm việc, không ghi nhận được nguyện vọng của bà S về việc nuôi con chung. Qua xác M tại địa phương hiện nay cháu M đang sinh sống ổn định với bà S. Hiện tại cháu Tuấn trên 07 tuổi và có nguyện vọng được sinh sống với bà S. Vì vậy, để đảm bảo cuộc sống của cháu M được ổn định, việc xem xét để ai trực tiếp nuôi con cần đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên nên Hội đồng xét xử giao cháu M cho bà S được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Ông H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở ông H thực hiện các quyền, nghĩa vụ này. Khi cần thiết, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình giải quyết bà S không lên Tòa làm việc và không ghi nhận được nguyện vọng của bà S. Tuy nhiên, ông H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ kể từ tháng 10 năm 2025 cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi và có khả năng lao động là phù hợp nên ghị nhận sự tự nguyện của ông H.

Về tài sản chung: Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án ông H khai tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, bà S không có bản khai trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử quyết định không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án ông H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; bà S không có bản khai trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử quyết định không xem xét giải quyết.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Ông H phải chịu án phí hôn nhân gia đình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Điều 8, Điều 9, Điều 19, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án năm 2016.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Sơn H về tranh chấp ly hôn với bị đơn bà Bùi Thị S.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trương Sơn H được ly hôn với bà Bùi Thị S.

1.2. Về con chung: Giao cháu Trương Bùi Tuấn M, sinh ngày 10/4/2010 cho bà S được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; Tạm thời ông H phải phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ (hai triệu đồng) cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Thời gian cấp dưỡng được tính từ tháng 10 năm 2025.

Sau khi ly hôn ông H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Khi cần thiết, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

1.3. Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

1.4. Về nợ chung: Không có, Không đặt ra xem xét giải quyết.

2. Về án phí:

2.1. Ông Trương Sơn H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) mà ông H đã nộp tại biên lai số 0006610 ngày 15/4/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Đồng Nai).

2.2. Buộc ông H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ về cấp dưỡng thì kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Ông H, bà S vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ