vanban.org

Bản án 133/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ LÁCH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 133/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25/4/2025.
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi
con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm . Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hơn. 2. Ông Trương Thanh Long.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ lách tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Thùy - Kiểm sát viên. Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 29/2025/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Lê Trúc Đ, sinh năm 1982; Địa chỉ: C khóm A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1971; Địa chỉ: ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre. Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn vắng không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến, đơn đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Huỳnh Trúc Đ1 trình bày:

- Về hôn nhân và việc cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn: bà và ông T tự nguyện kết hôn vào năm 2012 có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 17 tháng 9 năm 2012. Sau khi kết hôn ông bà chung sống hạnh phúc được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, tình cảm nhạt dần, ông bà đã sống ly thân với nhau khoảng 10 năm nay. Nhận thấy cuộc sống chung không hạnh phúc, không thể hàn gắn được. Nay bà yêu cầu tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T, bà không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng. Về con chung: Có 01 người con chung là Nguyễn Tấn K, sinh ngày 12/02/2013. Khi ly hôn bà Đ1 yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi người con chung nêu trên, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Bà Đ1 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Bà Đ1 xác định không có. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Nguyễn Văn T dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lí do nên không có lời trình bày. * Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: + Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn đối với bị đơn. Ghi nhận nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn. + Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn về con chung. Cụ thể, bà Đ1 được quyền trực tiếp nuôi người con chung là Nguyễn Tấn K, sinh ngày 12/02/2013. Bà Đ1 không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị không xem xét, giải quyết. + Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét. + Về nợ chung: Nguyên đơn xác định không có nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn, yêu cầu giải quyết quyền trực tiếp nuôi con chung khi ly hôn nên đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”, bị đơn có nơi cư trú tại huyện C nên được Tòa án xem xét giải quyết theo quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014. [2]. Về tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn là đúng quy định. Bị đơn trong vụ án vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn. [3]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về hôn nhân và việc cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn: Nguyên đơn và bị đơn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 17/9/2012, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Theo nguyên đơn trình bày cuộc sống hôn nhân phát sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng không hàn gắn được, cả hai đã sống ly thân từ lâu, trong thời gian này cả hai bên vẫn chưa có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành thông báo hợp lệ các phiên hòa giải với mục đích là hòa giải, động viên nhằm hàn gắn tình cảm, quan hệ giữa vợ chồng cho hai bên. Tuy nhiên nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu ly hôn, bị đơn không có biện pháp gì để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng đồng thời cũng không đến tham dự phiên hòa giải nhằm tạo điều kiện hàn gắn lại tình cảm vợ chồng, cũng không tham gia phiên tòa để giải quyết vụ án. Tại biên bản xác minh ngày 05 tháng 3 năm 2025 của Tòa án đối với địa phương cũng xác định bà Đ1 và ông T đã không sống chung nhà với nhau khoảng 11 năm nay, cả hai không hàn gắn được tình cảm. Từ những phân tích, đánh giá như trên, Hội đồng xét xử nhận định nguyên đơn cương quyết ly hôn còn bị đơn dù biết ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân nhưng bị đơn đã bỏ mặc cho nguyên đơn tự giải quyết, không cùng nguyên đơn có các biện pháp tích cực nhằm cải thiện tình trạng hôn nhân của cả hai để kéo dài mối quan hệ hôn nhân. Như vậy tình trạng hôn nhân của cả hai đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử cần thiết phải chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng cho nguyên đơn sau khi ly hôn là do sự tự nguyện của nguyên đơn vì vậy được ghi nhận, bị đơn không có mặt tại phiên tòa để trình bày yêu cầu về cấp dưỡng giữa vợ chồng vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét yêu cầu này.

- Về con chung và việc cấp dưỡng nuôi con: Quá trình chung sống, ông bà có 01 người con chung là Nguyễn Tấn K, sinh ngày 12/02/2013, con chung đang sống chung với bà Đ1 và có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với bà Đ1. Sau khi ly hôn, bà Đ1 yêu cầu được quyền nuôi con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con chung của bà Đ1 là chính đáng, từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay, bà Đ1 là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Vì vậy việc giao con chung cho bà Đ1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình nên được xem xét chấp nhận. Bà Đ1 không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung: Nguyên đơn xác định không yêu cầu giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Nguyên đơn xác định không có, không yêu cầu giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét. [4]. Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách tại phiên tòa về hình thức, nội dung vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật vì vậy được Hội đồng xét xử chấp nhận. [5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn có nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Về quan hệ hôn nhân và việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Trúc Đ. Bà Lê Trúc Đ được ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Bà Lê Trúc Đ không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.

2. Về con chung và việc cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Trúc Đ được quyền trực tiếp nuôi người con tên Nguyễn Tấn K, sinh ngày 12/02/2013 (cháu đang sống chung với bà Đ và có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với bà Đ). Bà Lê Trúc Đ không yêu cầu ông Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét, giải quyết. Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con chung sau này, theo yêu cầu của đương sự hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con. 3. Về tài sản chung: Bà Lê Trúc Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. 4. Về nợ chung: Bà Lê Trúc Đ xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. 5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Trúc Đ có nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0008893 ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Bà Lê Trúc Đ đã nộp đủ án phí. 6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ