vanban.org

Bản án 133/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 30/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Tất T, Thái Hoàng N phạm tội “Thu thập, tàng trữ, trao đổi trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng”.

Xử phạt Nguyễn Tất T 03 (ba) tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 30/12/2024. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thu thập, tàng trữ, trao đổi trái phép thông tin về tài khoản Ngân hàng - phạm tội thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Tất T, Thái Hoàng N phạm tội “Thu thập, tàng trữ, trao đổi trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng”.
  • Căn cứ chính? Điều 291 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133/2024/HS-ST
Ngày: 30-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Hưng

Bà Lê Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: ông Lê Văn Linh – Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: bà Võ Thị Hải Hà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên toà để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 137/2024/TLST-HS ngày 25/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2024/QĐXXST-HS ngày 25/11/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 200/2024/QĐ-HSST ngày 10/12/2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Tất T, sinh ngày 03/02/2004 tại Nghệ An; nơi thường trú: xóm 6, xã A, huyện B, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: số 48/50 đường C, tổ 79, phường D, quận L, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Tất T1 và bà Nguyễn Thị H; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đang được tại ngoại (có mặt).

2. Thái Hoàng N, sinh ngày 15/8/2001 tại Nghệ An; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm 4, xã A, huyện B, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: sửa chữa máy tính; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Thái Hoàng T và bà Nguyễn Thị L; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đang được tại ngoại (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Nguyễn Tất A, sinh năm 2004; nơi thường trú: xóm 4, xã A, huyện B, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).

2. Anh Lê Đức Đ, sinh năm 2004; nơi thường trú: xóm 5, xã A, huyện B, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: số 48/50 đường C, phường D, quận L, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 10/11/2023, Thái Hoàng N chở Nguyễn Tất T đi trên đường không đội mũ bảo hiểm nên bị Lực lượng 911 tiến hành kiểm tra, bàn giao cho Công an phường Khuê Mỹ và Công an quận Ngũ Hành Sơn xử lý. Qua kiểm tra hành chính xác định T, N tham gia nhiều nhóm trên mạng xã hội Telegram có hành vi thu thập, tàng trữ, trao đổi trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng. Qua điều tra xác định:

1. Đối với Nguyễn Tất T:

Nguyễn Tất T là sinh viên, muốn kiếm thêm thu nhập bằng công việc làm thêm online, T đã mở thẻ ngân hàng và sử dụng để chạy quảng cáo sản phẩm trên facebook khi có khách hàng yêu cầu nhưng việc sử dụng thẻ ngân hàng của chính mình chi phí cao, không có lợi nhuận. T tự tìm hiểu quy trình quảng cáo trên mạng xã hội facebook và nhận thấy để quảng cáo có lợi nhuận và giá cả cạnh tranh thì cần phải sử dụng nhiều thông tin tài khoản ngân hàng là thẻ tín dụng có chức năng thanh toán quốc tế để tăng tương tác.

Khoảng tháng 4/2023, Nguyễn Tất T đã sử dụng tài khoản Telegram tên “Chan Onni” (số điện thoại đăng ký là +84333999043, ID: @tuantungx15) tham gia vào hội nhóm Telegram tên “ra lộc CC free” có đường link: https://t.me/ralocCCfree để tìm mua thông tin tài khoản thẻ tín dụng (Credit Card) với giá rẻ, từ 0,2USD - 1USD cho 01 tài khoản thẻ tín dụng thông qua Telegram (T không nhớ rõ tên tài khoản Telegram). T sử dụng những thông tin tài khoản thẻ tín dụng thu thập được để chạy quảng cáo Facebook cho người khác với giá khoảng 30%-35% so với giả Facebook đưa ra. Đến thời điểm bị phát hiện, T đã thu lợi bất chính số tiền 54.070.000 đồng từ việc chạy quảng cáo Facebook sử dụng thẻ tín dụng của người khác thông qua tài khoản Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) số 0333999043 và sử dụng số tiền này tiêu dùng cá nhân.

Nguyễn Tất T đã lưu thông tin 65 (sáu mươi lăm) tài khoản thẻ ngân hàng của người khác tại mục tin nhắn đám mây “Saved Messages” trên tài khoản Telegram tên “Chan Onni” và 05 (năm) tài khoản thẻ ngân hàng của người khác tại mục tin nhắn đám mây “Cloud của tôi” trên tài khoản Zalo tên “Nguyễn Tất T” có số điện thoại đăng ký là 0333999043.

T đã tạo lập nhóm Telegram có tên “thẻ” gồm 3 thành viên là Nguyễn Tất T, Nguyễn Tất A (tài khoản Telegram tên “An Giang”, số điện thoại đăng ký là +84338522701, ID: @betsiu123) và Lê Đức Đ (tài khoản Telegram tên “Đạt Tử”, số điện thoại đăng ký là +84393029408, ID: @dattux9) và gửi vào nhóm thông tin 47 (bốn mươi bảy) tài khoản thẻ ngân hàng của người khác. Ngoài ra, T còn gửi thông tin 456 (bốn trăm năm mươi sáu) tài khoản thẻ ngân hàng của người khác vào tài khoản Telegram của Lê Đức Đ và 35 (Ba mươi lăm) tài khoản thẻ ngân hàng của người khác vào tài khoản Telegram của Nguyễn Tất A. Mục đích T lập nhóm Telegram tên “thẻ” rồi gửi thông tin tài khoản thẻ ngân hàng vào nhóm này và gửi riêng cho Nguyễn Tất A, Lê Đức Đ là để T lưu trữ, phân loại thẻ và để lúc cần thì lấy thông tin ra sử dụng chạy quảng cáo. A và Đ không biết về công việc T đang làm, không biết nguồn gốc thông tin tài khoản thẻ ngân hàng mà T gửi và cũng không sử dụng các thông tin tài khoản ngân hàng của T.

Đến nay, Nguyễn Tất T chưa giao nộp lại số tiền thu lợi bất chính như đã nêu trên.

2. Đối với Thái Hoàng N:

Cuối tháng 9/2023, Thái Hoàng N (đang ở Nghệ An) liên lạc với Nguyễn Tất T để xin danh sách tài khoản email bị “chết” (những tài khoản email này được người khác đăng ký nhưng đã bị khóa, không còn người sử dụng) để khôi phục sử dụng. Những email này T lấy miễn phí trên trang expireddomains.net và gửi cho N thông qua tài khoản Telegram của N tên “NamCaChua”, số điện thoại đăng ký là +84849853456, ID: (@domainreg). Sau đó, Thái Hoàng N thuê Lê Đức Đ và Nguyễn Tất A khôi phục lại các tài khoản email bị vô hiệu hóa này và gửi email đã khôi phục được cho N, N kiểm tra những email này nếu có đăng ký tài khoản Facebook thì N lấy lại mật khẩu tài khoản Facebook để bán lấy tiền hoặc nếu không đăng ký thì N sẽ bán tài khoản email lấy tiền. N thỏa thuận trả công cho Lê Đức Đ và Nguyễn Tất A là 5.000 đồng đối với mỗi tài khoản email khôi phục được. N đã khôi phục được khoảng vài trăm tài khoản email nhưng không nhớ số lượng cụ thể (không thu thập được dữ liệu về nội dung này).

Thái Hoàng N đã thu thập miễn phí thông tin một số thẻ tài khoản ngân hàng có chức năng thanh toán quốc tế trên trang web www.genccv.net và được Nguyễn Tất T gửi cho thông tin 40 thẻ tài khoản ngân hàng có chức năng thanh toán quốc tế để N sử dụng thanh toán phí cho những trang web khôi phục tài khoản email. Khi thuê và Đ làm việc cho mình, N đã gửi thông tin 10 thẻ tài khoản ngân hàng cho Đ và 01 thẻ tài khoản ngân hàng cho A sử dụng để thanh toán phí cho những trang web khôi phục tài khoản email. Khi N mượn máy tính của T để sử dụng, N đã gửi thông tin 07 thẻ tài khoản ngân hàng sang máy của T, T không sử dụng những thẻ tài khoản ngân hàng này.

Ngoài ra, Nguyễn Tất A có chuyển tiếp 01 thông tin tài khoản thẻ ngân hàng từ Nguyễn Tất T cho Lê Đức Đ qua Telegram. Lê Đức Đ và Nguyễn Tất A có sử dụng một số thông tin tài khoản thẻ ngân hàng của Nguyễn Tất T để khôi phục tài khoản email bị chết cho N nhưng không nhớ đã sử dụng thông tin tài khoản thẻ ngân hàng nào trong tin nhắn của T.

Thái Hoàng N không có nguồn để bán tài khoản Facebook và tài khoản email đã khôi phục nên N chưa hưởng lợi gì từ việc làm này và cũng chưa trả công cho A và Đ.

Ngoài ra, cuối tháng 10/2023, Thái Hoàng N quen biết tài khoản Telegram tên “Yamate Kudasai domain” (ID: @quangcaofb1) và tài khoản Telegram tên “A Tuấn” (số điện thoại đăng ký là +84963906663; ID: @okfaill) thông qua nhóm Telegram “Box chat – iLazy”. “Yamate Kudasai domain” và “A Tuấn” đặt vấn đề hợp tác làm ăn với N thông qua việc mua hàng trên sàn thương mại điện tử Alibaba tại cửa hàng do “Yamate Kudasai domain” và “A Tuấn” chỉ định bằng tài khoản Alibaba của người khác mà N thu thập được. Theo đó, “Yamate Kudasai domain” và “A Tuấn” đưa cho N thông tin cửa hàng cần đánh sập, nếu N làm được sẽ được trả công từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng hoặc sử dụng tài khoản Alibaba để mua hàng từ các cửa hàng trên trang Alibaba, nếu hàng giao đến mà chủ tài khoản Alibaba nhận hàng thì cả ba được chia tiền lợi nhuận từ cửa hàng nêu trên, nếu chủ tài khoản Alibaba không nhận hàng thì cả ba không được chia tiền.

Đầu tháng 11/2023, Thái Hoàng N có đến nhà trọ của Nguyễn Tất T, Nguyễn Tất A và Lê Đức Đ ở đường Nguyễn Thần Hiến, phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng chơi và 02 ngày sau thì N mang máy tính đến ở chung. Ngày 07/11/2023, N thuê A và Đ đăng nhập tài khoản nền tảng thương mại điện tử Alibaba và cả hai đã đồng ý. Sau đó, N đã gửi danh sách tài khoản Alibaba của người khác cho A và Đ qua Telegram và yêu cầu A, Đ kiểm tra tài khoản nào có thể đăng nhập vào được và liên kết với thẻ ngân hàng có chức năng thanh toán quốc tế thì gửi lại cho N, N hứa trả tiền công cho A và Đ là 200.000 đồng/tuần làm việc bán thời gian. Thái Hoàng N đã mua dữ liệu tài khoản Alibaba của người khác từ 01 (một) con Bot tên là “Sorterpass” được chia sẻ trên 01 hội nhóm Telegram nhưng N không nhớ thông tin của hội nhóm này. Thái Hoàng N đã trả phí từ 25-30USD hàng tháng để được sử dụng con bot tên “Sorterpass” này, mỗi ngày N nhận khoảng 3.000 tài khoản Alibaba và mật khẩu chưa qua kiểm tra có trùng không, có đăng nhập được không. N đã cung cấp vài trăm tài khoản Alibaba cho A và Đ xâm nhập kiểm tra nhưng chỉ được tổng cộng 145 tài khoản đạt yêu cầu của N. A và Đ đã gửi thông tin tài khoản Alibaba đạt yêu cầu cho N qua Telegram nhưng N không nhớ số lượng cụ thể của mỗi người. N đã lập danh sách 145 tài khoản Alibaba nêu trên bằng Excel và lưu file trong máy tính cá nhân đã bị cơ quan Công an tạm giữ, trong đó 104 tài khoản có liên kết với thẻ tín dụng nhưng số thẻ không hiển thị đầy đủ. N thừa nhận đã đăng nhập và sử dụng khoảng 20 tài khoản Alibaba của người khác để mua hàng tại cửa hàng trên sàn thương mại điện tử Alibaba nhưng chỉ khoảng 5 hay 6 tài khoản thanh toán được và chủ tài khoản Alibaba không nhận hàng. Do chủ tài khoản Alibaba không nhận hàng nên N chưa trả tiền công cho A và Đ. N chưa hưởng lợi từ việc thu thập, tàng trữ, trao đổi trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng và xâm nhập trái phép vào tài khoản nền tảng thương mại điện tử Alibaba của người khác và bị cơ quan Công an phát hiện.

Vật chứng tạm giữ:

1. Thu giữ của Nguyễn Tất T: 01 máy vi tính có ID: AEE6E82B-6F70-4C7F-A97A-79311BDDED60; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ACER NITRO 5 (số SN: NHQFKST0072111797E3400); 01 điện thoại Iphone 14 Pro Max, số seri: GTVW9VYQJH, IMEI: 356266761120812.

2. Thu giữ của Thái Hoàng N: 01 máy tính (computer name: DESKTOP-561743G, Inter Xeon CPU E5- 2680); 01 điện thoại Ihone 13 Pro Max (số seri: QXQ92LCNWWS, IMEI: 353210483094718).

3. Thu giữ của Lê Đức Đ: 01 máy tính xách tay hiệu ASUS TUF 15 (số SN: N5NRCX07K483217; ID: 8FF7A266-D6B1-479E-8B17-C23B5A8C6CDC); 01 điện thoại Iphone 12 Pro Max (số seri: GONDLHS00D3Y, IMEI: 356716112975355).

4. Thu giữ của Nguyễn Tất A: 01 máy tính xách tay hiệu DELL VOSTRO 3401 (mã ORC:70233744; ID: D533B9B8-E18A-4EB7-B89D-18393B525EFA); 01 điện thoại Iphone 12 Pro Max (số seri: C6TDV07Z0D42, IMEI: 359237631007353).

* Cơ quan Điều tra tiến hành trích xuất dữ liệu lưu trữ trong điện thoại di động cá nhân của T, N, A, Đ và yêu cầu T, N, A, Đ đăng nhập vào tài khoản Telegram đang sử dụng thấy có lưu trữ thông tin tổng cộng 632 tài khoản nghi vấn là tài khoản thẻ tín dụng có chức năng thanh toán quốc tế gồm 268 tài khoản thẻ VISA và 364 tài khoản thẻ MASTERCARD.

Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại Công Ty Visa International (Asia - Pacific), LLC Mỹ xác định: trong số 268 tài khoản thẻ VISA nêu trên, Công ty Visa International (Asia Pacific) xác thực sự tồn tại của 35 tài khoản thẻ có phát sinh giao dịch trong vòng 180 ngày gần nhất, đối với những tài khoản thẻ VISA nghi vấn còn lại thì cơ quan Công an phải liên hệ với các ngân hàng và tổ chức tín dụng nước ngoài đã phát hành thẻ để xác thực sự tồn tại. (Trong 35 tài khoản thẻ có phát sinh giao dịch thì xác định Thái Hoàng N có 05 thẻ).

Qua xác minh tại Mastercard Asia/Pacific PTE. LTD. Singapore xác định: trong số 364 tài khoản thẻ MASTERCARD nêu trên, Mastercard Asia/Pacific PTE. LTD. Singapore xác thực có 314 tài khoản thẻ MASTERCARD (trong đó xác định Thái Hoàng N có 25 tài khoản thẻ).

Tại Cáo trạng số 170/CT-VKS-P2 ngày 24/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Tất T về tội “Thu thập, tàng trữ, trao đổi trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” theo điểm a khoản 3 Điều 291 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Thái Hoàng N về tội “Thu thập, tàng trữ, trao đổi trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” theo khoản 1 Điều 291 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 291; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Tất T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 291; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự; xử phạt Thái Hoàng N từ 18 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ.

* Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với các vật chứng đã tạm giữ của Nguyễn Tất T và Thái Hoàng N; trả lại cho Lê Đức Đ và Nguyễn Tất A những vật chứng đã tạm giữ.

Đề nghị tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước toàn bộ số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo Nguyễn Tất T đã nộp.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất tội danh như Viện kiểm sát truy tố, ăn năn hối hận và xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định:

Tháng 4/ 2023, Nguyễn Tất T muốn kiếm công việc làm thêm online bằng cách quảng cáo sản phẩm cho người khác trên nền tảng mạng xã hội facebook với chi phí đầu tư thấp nhưng thu được lợi nhuận cao, nên T đã sử dụng tài khoản Telegram của mình tên “Chan Onni” để tham gia vào hội nhóm Telegram tên “ra lộc CC free” để tìm kiếm thu thập miễn phí thông tin tài khoản thẻ tín dụng có chức năng thanh toán quốc tế với giá rẻ. Với phương thức này, T đã thu thập, tàng trữ, trao đổi trái phép 349 tài khoản thẻ tín dụng (gồm 35 tài khoản thẻ Visa và 314 tài khoản thẻ Mastercard) và sử dụng chạy quảng cáo trên mạng xã hội Facebook, được miễn phí sử dụng 02 USD để chạy quảng cáo lần đầu tiên, thu lợi số tiền 54.070.000 đồng. Sau khi sử dụng hết 02 USD miễn phí thì bị cáo không tiếp tục sử dụng thẻ và không có mục đích chiếm đoạt tiền của chủ thẻ, thực tế bị cáo không có mã OTP khi hệ thống nhắn tin về số điện thoại đăng ký của chủ thẻ.

Khoảng cuối tháng 9/2023, Thái Hoàng N đã tự tìm kiếm và được Nguyễn Tất T giúp đỡ đã thu thập, tàng trữ, trao đổi trái phép 30 tài khoản thẻ tín dụng (gồm 25 tài khoản thẻ Mastercard và 05 tài khoản thẻ Visa) để sử dụng vào việc trả phí cho trang wed khôi phục tài khoản email bị chết để bán kiếm tiền, N chưa bán được tài khoản email nên chưa thu được khoản lợi nào.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Tất T đã phạm vào tội “Thu thập, tàng trữ, trao đổi trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” theo điểm a khoản 3 Điều 291 Bộ luật Hình sự; bị cáo Thái Hoàng N phạm vào tội “Thu thập, tàng trữ, trao đổi trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” theo khoản 1 Điều 291 Bộ luật Hình sự như cáo trạng đã truy tố.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội thì thấy: hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm vào những quy định của Nhà nước về bảo vệ quyền sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức hoặc công dân; quy định của Nhà nước về đảm bảo an toàn trong lĩnh vực thanh toán ngân hàng, tạo điều kiện phát sinh các hành vi vi phạm pháp luật khác. Các bị cáo đều đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo thỏa đáng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ và nhân thân: các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Bị cáo T hiện đang là sinh viên năm 3 Trường Đại học FPT Đà Nẵng, có cha ruột bị bệnh tiểu đường biến chứng, không có khả năng lao động, gia đình bị cáo có công cách mạng; bị cáo N phạm tội thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhà của bị cáo bị cháy vào năm 2020 gây thiệt hại toàn bộ tài sản của gia đình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử cân nhắc áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, việc không cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo Nguyễn Tất T được hưởng án treo và áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự để xử phạt hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo N như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, vẫn đảm bảo việc răn đe, cải tạo, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: gia đình bị cáo T có hoàn cảnh khó khăn, đang là sinh viên, chưa có thu nhập nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Đối với bị cáo N, tuy gia đình có hoàn cảnh khó khăn nhưng hiện nay bị cáo đã có công việc ổn định, Hội đồng xét xử không khấu trừ thu nhập nhưng cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cũng thỏa đáng.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 máy vi tính; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ACER NITRO 5; 01 điện thoại Iphone 14 Pro Max thu giữ của Nguyễn Tất T và 01 máy tính; 01 điện thoại Iphone 13 Pro Max thu giữ của Thái Hoàng N. Xét thấy các bị cáo sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với 01 máy tính xách tay hiệu ASUS TUF 15; 01 điện thoại Iphone 12 Pro Max tạm giữ của Lê Đức Đ và 01 máy tính xách tay hiệu DELL VOSTRO 3401; 01 điện thoại Iphone 12 Pro Max tạm giữ của Nguyễn Tất A không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho Lê Đức Đ, Nguyễn Tất A.

Về biện pháp tư pháp: đối với số tiền 54.070.000 đồng bị cáo Nguyễn Tất T đã thu lợi bất chính, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Quá trình giải quyết vụ án bị cáo đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền trên nên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Những vấn đề khác: về hành vi chiếm đoạt trái phép tài khoản sàn thương mại điện tử Alibaba của Thái Hoàng N và hành vi thu thập, tàng trữ, trao đổi thông tin tài khoản ngân hàng của Lê Đức Đ, Nguyễn Tất A Cơ quan điều tra không đề cập giải quyết trong vụ án này là phù hợp.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Tất T, Thái Hoàng N phạm tội “Thu thập, tàng trữ, trao đổi trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng”.

1. Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 291; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Tất T 03 (ba) tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 30/12/2024.

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Căn cứ vào khoản 1, khoản 4 Điều 291; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Thái Hoàng N 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Thượng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An để giám sát, giáo dục. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự.

Về hình phạt bổ sung: phạt bổ sung bị cáo Thái Hoàng N số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: căn cứ vào Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng:

3.1 Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

- 01 CPU máy tính màu trắng bên trong có dòng chữ Z690 TUF GAMING (có giấy trắng dán mặt trên và mặt sau của CPU, trên giấy có con dấu đỏ của Công an quận Ngũ Hành Sơn và chữ ký của Nguyễn Tất T);

- 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ACER NITRO 5, số SN: NHQFKST0072111797E3400 (có 01 tờ giấy trắng dán ở mép gập mở, trên giấy có con dấu của Công an quận Ngũ Hành Sơn và chữ ký của Nguyễn Tất T);

- 01 điện thoại Iphone 14 Pro Max, số seri: GTVW9VYQJH, IMEI: 356266761120812 của Nguyễn Tất T (đựng trong 01 bì thư niêm phong, nơi mép dán có băng keo trong đè lên chữ ký của Nguyễn Tất T, Trần Dương Vũ và con dấu của Công an quận Ngũ Hành Sơn);

- 01 CPU máy tính màu đen, mặt trước có chữ X nổi (có giấy trắng dán mặt trên và mặt sau của CPU, trên giấy có dấu đỏ của Công an quận Ngũ Hành Sơn và chữ kỹ của Thái Hoàng N;

- 01 điện thoại Iphone 13 Pro Max, số seri: QXQ92LCNWW5, IMEI: 353210483094718 (đựng trong 01 bì thư niêm phong, nơi mép dán có băng keo trong đè lên chữ ký của Thái Hoàng N, Trần Dương Vũ và con dấu của Công an quận Ngũ Hành Sơn).

3.2 Trả lại cho Lê Đức Đ:

- 01 máy tính xách tay hiệu ASUS TUF 15 (số SN: N5NRCX07K483217; ID: 8FF7A266-D6B1-479E-8B17-C23B5A8C6CDC) (có 01 tờ giấy trắng dán ở mép gập mở, trên giấy có con dấu của Công an quận Ngũ Hành Sơn và chữ ký của Lê Đức Đ;

- 01 điện thoại Iphone 12 Pro Max, số seri: GONDLHSO0D3Y, IMEI: 356716112975355 (đựng trong 01 bì thư niêm phong, nơi mép dán có băng keo trong đè lên chữ ký của Lê Đức Đ, Trần Dương Vũ và con dấu của Công an quận Ngũ Hành Sơn).

3.3 Trả lại cho Nguyễn Tất A:

- 01 máy tính xách tay hiệu DELL VOSTRO (có 01 tờ giấy trắng dán ở mép gập mở, trên giấy có con dấu của Công an quận Ngũ Hành Sơn và chữ ký của Nguyễn Tất A;

- 01 điện thoại Iphone 12 Pro Max màu xanh, số seri: C6TDV07Z0D42, IMEI: 359237631007353 (đựng trong 01 bì thư niêm phong, nơi mép dán có băng keo trong đè lên chữ ký của Nguyễn Tất A, Trần Dương Vũ và con dấu của Công an quận Ngũ Hành Sơn).

(Các vật chứng trên hiện đang được tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự phố Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng và Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng).

3.4 Buộc bị cáo Nguyễn Tất T phải nộp 54.070.000 đồng (năm mươi bốn triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng) tiền thu lợi bất chính để sung vào ngân sách nhà nước (bị cáo đã nộp đủ theo biên lai thu số 0000733 ngày 27/12/2024 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng).

4. Về án phí: căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ