- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn giữa chị V và anh S"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 133 /2023/ST-HNGĐ Ngày 25/9 /2023 “V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lữ Thị Dung
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Hiền; Bà Trần Thị Hạnh
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lê - Thư ký Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 109/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52 /2023/QĐXX-ST, ngày 31 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lang Thị V - sinh năm 1995 – có mặt.
Địa chỉ: Bản M, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An
- Bị đơn: Anh Lô Văn S - sinh năm 1988 - vắng mặt.
Địa chỉ: Bản K, xã M, huyện C, Nghệ An.
- Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:
Ông Phạm Thế K - Trợ giúp viên thuộc trung tâm T1. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị Lang Thị V trình bày: Chị Lang Thị V và anh Lô Văn S kết hôn vào ngày 01/11/2013, đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2017 thì xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh S thường xuyên uống rượu say rồi đánh đập vợ, vợ chồng thường xuyên bất đồng, cãi vã, xúc phạm lẫn nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mặc dù đã được gia đình hai bên nội ngoại hòa giải nhiều lần nhưng cuộc sống có quá nhiều mâu thuẫn và do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên chị V đi làm ăn, và sống ly thân với anh S từ năm 2017 cho đến nay không còn quan tâm đến nhau, cũng không liên lạc với nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên chị Lang Thị V làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lô Văn S.
Về con chung: Vợ chồng chị Lang Thị V và anh Lô Văn S có 02 người con chung Lô Thị Ngọc S1, sinh ngày 07/12/2013 và Lô Quốc B, sinh ngày 18/5/2015, hiện tại con đang sinh sống cùng chị V. Nếu ly hôn chị V có nguyện vọng trực tiếp nuôi 02 người con chung và không yều cầu anh Lô Văn S phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Lang Thị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng chị không nợ tổ chức, cá nhân nào và cũng không ai nợ vợ chồng chị .
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm anh Lô Văn S đều vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhiều lần nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Về tình cảm: Chị Lang Thị V và anh L văn Sáng đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện C trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện về kết hôn. Tuy nhiên trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân đã lâu không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị HĐXX chấp nhận đơn khởi kiện cho chị Lang Thị V được ly hôn với anh Lô Văn S; Về con chung: Cháu S1 và cháu B có nguyện vọng được ở với mẹ, cần sự chăm sóc nuôi dưỡng của người mẹ nên đề nghị HĐXX xem xét giao 02 người con chung cho chị Lang Thị V trực tiếp nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung của vợ chồng chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:
- Về tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng; nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn ly hôn của chị Lang Thị V. Buộc chị Lang Thị V và anh L văn Sáng chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật; Về con chung: Giao 02 người con chung Lô Thị Ngọc S1, sinh ngày 07/12/2013 và Lô Quốc B, sinh ngày 08/5/2015 cho chị Lang Thị V trực tiếp nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung của vợ chồng chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Về án phí chị V phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, bị đơn hiện cư trú tại bản K, xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Qua xác minh tình trạng hôn nhân của chị Lang Thị V và anh Lô Văn S tại UBND xã M, huyện C cho biết, sau khi đăng ký kết hôn chị V và anh S sinh sống tại bản Kẻ mẻ, xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An, hiện tại anh S không có mặt ở địa phương đi đâu chính quyền, địa phương không biết, anh S thỉnh thoảng mới về nhà, và không khai báo cắt khẩu tạm trú, tạm vắng. Tại biên bản lấy lời khai anh Lô Văn T, Trú tại bản K, xã M, huyện C là anh trai của anh Lô Văn S cho biết, sau khi anh S và chị V kết hôn thì sinh sống ở bản K, xã M, thời gian đầu vợ chồng sinh sống xây dựng nhà cửa, tuy nhiên anh S hay uống rượu về nhà gây gỗ với vợ con, nhưng chưa đến mức trầm trọng, năm 2017 chị V đi xuất khẩu lao động, từ đó vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn, anh S thường xuyên uống rượu phá hết nhà cửa, đến năm 2020 anh S cũng đi làm ăn ít khi về nhà thỉnh thoảng có gọi điện về hỏi thăm, còn địa chỉ cụ thể ở đâu, làm gì thì anh T cũng không biết, còn chị V cũng không thấy trở về hay liên lạc gì với gia đình bên nội, anh T mặc dù đã được nghe đọc lại biên bản lấy lời khai, xác nhận lời khai của anh là đúng sự thật nhưng không ký vào biên bản, cũng không nhận các văn bản tố tụng của Tòa án đến tống đạt cho anh S, nên Tòa án tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng tại thôn bản nơi anh S cư trú và tại trụ sở UBND xã M theo đúng quy định pháp luật.
Như vậy, bị đơn đã thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú mới. Theo quy định tại Điều 40; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự thì được coi là cố tình che giấu địa chỉ nên Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tụng chung là phù hợp với hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lô Văn S đã được Tòa án niêm yết hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Lô Văn S theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lô Văn S không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét thấy chị Lang Thị V và anh L văn Sáng đăng ký kết hôn vào ngày 01/11/2013, đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Lang Thị V và anh Lô Văn S là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị V và anh S phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân với nhau từ năm 2017 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, như vậy chị V và anh S đã vi phạm tình nghĩa vợ chồng.
Tại phiên tòa anh Lô Văn S vắng mặt không có ý kiến trình bày nhưng qua xác minh tại địa phương cho biết: Quá trình kết hôn và chung sống vợ chồng chị V và anh S có nhiều mâu thuẫn, chị V bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và ly thân với anh S từ năm 2017 cho đến nay không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, hiện tại anh S không có mặt ở địa phương đi đâu chính quyền, địa phương không biết vì anh S không khai báo cắt khẩu tạm trú, tạm vắng. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Lang Thị V và anh L văn Sáng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện, cho chị Lang Thị V được ly hôn với anh Lô Văn S.
Về con chung: Vợ chồng chị Lang Thị V và anh Lô Văn S có 02 người con chung Lô Thị Ngọc S1, sinh ngày 07/12/2013 và Lô Quốc B, sinh ngày 08/5/2015. Nếu ly hôn chị V có nguyện vọng trực tiếp nuôi 02 người con chung và không yều cầu anh Lô Văn S phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Do hiện nay anh S không có mặt ở địa phương, việc giao con cho anh S nuôi dưỡng là không đảm bảo điều kiện về mọi mặt của con. Xét thấy nguyện vọng của chị Lang Thị V là chính đáng, các cháu Lô Thị Ngọc S1 và Lô Quốc B đều có nguyện vọng mong muốn sinh sống cùng mẹ, nên xét giao 02 người con chung cho chị Lang Thị V trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi tròn 18 tuổi,trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con do chị V không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Chị Lang Thị V và anh Lô Văn S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Lang Thị V phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Lang Thị V.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lang Thị V được ly hôn với anh L văn Sáng. Chị Lang Thị V và anh L văn Sáng chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao 02 người con chung Lô Thị Ngọc S1, sinh ngày 07/12/2013 và Lô Quốc B, sinh ngày 08/5/2015 cho chị Lang Thị V trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi tròn 18 tuổi, trưởng thành. Anh Lô Văn S có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con. Chị Lang Thị V cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí: Áp dụng khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị Lang Thị V phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị V đã nộp 300.000 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0000808 ngày 14/7/2023.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NA; - VKSND huyện Con Cuông; - Chi cục THADS huyện Con Cuông; - Nguyên đơn, bị đơn; - UBND xã L; - Lưu hồ sơ -VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Lữ Thị Dung |