vanban.org

Bản án 133/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xuân T

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Xuân T được ly hôn với ông Cao Xuân H. Về con chung: Giao cháu Cao Xuân Th - sinh ngày 05/02/2009 và cháu Cao Xuân V - sinh ngày 01/01/2015 cho mẹ là bà Nguyễn Thị Xuân T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi hai cháu đủ tuổi thành niên. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Xuân T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xuân T
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 01 - 8 - 2023
“V/v: Tranh chấp ly hôn và con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Dương

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Nghị

2. Bà Phạm Thị Tuyết Nhung

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hồng Nhung – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tinh – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2023, tại phòng xử án - Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 346/2023/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn và con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2023/QĐXXST –HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 125/2023/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Xuân T - sinh năm 1990

Địa chỉ: Tổ dân phố x, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Cao Xuân H - sinh năm 1986

Địa chỉ: Tổ dân phố x, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Xuân T trình bày:

Bà và ông Cao Xuân H có tìm hiểu, chung sống và đăng ký kết hôn vào ngày 30/12/2009 tại UBND phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk trên cơ sở tự nguyện. Ông bà chung sống hạnh phúc một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, vợ chồng không hòa hợp. Nay, xét thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn và không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân. Vì vậy, bà T yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột giải quyết cho bà được ly hôn với ông Cao Xuân H.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Nguyễn Thị Xuân T và ông Cao Xuân H có 2 con chung là cháu Cao Xuân Th, sinh ngày 05/02/2009 và cháu Cao Xuân V, sinh ngày 01/01/2015. Bà T có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng cả 2 cháu đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Bị đơn ông Cao Xuân H: Tòa án đã triệu tập hợp lệ và thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng ông H vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột trình bày:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Xuân T. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Xuân T được ly hôn với ông Cao Xuân H. Về con chung: Giao các cháu Cao Xuân Th, sinh ngày 05/02/2009 và cháu Cao Xuân V, sinh ngày 01/01/2015 cho mẹ là bà Nguyễn Thị Xuân T chăm sóc nuôi dưỡng đến khi đủ tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xuân T yêu cầu ly hôn với ông Cao Xuân H, địa chỉ cư trú tại phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn và con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Bị đơn ông Cao Xuân H đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xuân T có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Xuân T và ông Cao Xuân H tự nguyện đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn vào ngày 30/12/2009 tại UBND phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk trên cơ sở tự nguyện nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Bà Nguyễn Thị Xuân T và ông Cao Xuân H đã chung sống hạnh phúc một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, vợ chồng không hòa hợp. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà T đã nộp đơn đề nghị giải quyết xin ly hôn với ông H. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông H vẫn vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương. Đại diện chính quyền địa phương cho biết:“Ông Cao Xuân H có cư trú tại địa chỉ tổ dân phố x, phường K, thành phố B. Về mâu thuẫn vợ chồng thì theo chính quyền địa phương không nắm được, do ông H và bà T không đề nghị địa phương tiến hành hòa giải”.

Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Xuân T và ông Cao Xuân H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Xuân T, cho bà T được ly hôn với ông Cao Xuân H.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Nguyễn Thị Xuân T và ông Cao Xuân H có 2 con chung là cháu Cao Xuân Th, sinh ngày 05/02/2009 và cháu Cao Xuân V, sinh ngày 01/01/2015. Hiện các cháu còn nhỏ đang ở với mẹ nên bà T có nguyện vọng được chăm sóc nuôi dưỡng các cháu tới tuổi trưởng thành. Tại bản tự khai ngày 15/5/2023 các cháu Th và cháu V có nguyện vọng xin được ở với mẹ. Trong quá trình giải quyết vụ án ông H không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện về ly hôn cũng như về việc nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà Nguyễn Thị Xuân T về việc được nuôi các cháu là phù hợp với thực tế và đảm bảo được quyền và lợi ích của con chung nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung là cháu Cao Xuân Th sinh ngày 05/02/2009 và cháu Cao Xuân V sinh ngày 01/01/2015 cho mẹ là bà Nguyễn Thị Xuân T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị Xuân T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xuân T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định, bị đơn ông Cao Xuân H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ: Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ: Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xuân T

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Xuân T được ly hôn với ông Cao Xuân H.

2. Về con chung: Giao cháu Cao Xuân Th - sinh ngày 05/02/2009 và cháu Cao Xuân V - sinh ngày 01/01/2015 cho mẹ là bà Nguyễn Thị Xuân T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi hai cháu đủ tuổi thành niên.

Ông Cao Xuân H được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị Xuân T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Xuân T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm; được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí mà Nguyễn Thị Đào nt (nộp thay) Nguyễn Thị Xuân T theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2022/0001784 ngày 18/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ