- Tranh chấp gì? án dân sự — "Hợp đồng mua bán tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ D, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 133/2023/DS-ST Ngày 15 – 6 – 2023 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ D, TỈNH CÀ MAU
- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trúc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hiển
Ông Châu Trung Trực
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Kim Thia là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ D, tỉnh Cà Mau.
Ngày 15 tháng 6 năm 2023 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ D, tỉnh Cà Mau và điểm cầu thành phần trụ sở Ủy ban nhân dân xã Ng Ch, huyện Đ D, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 264/2023/TLST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 154/2023/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn H; Sinh năm 1958; Cư trú tại: Ấp T Ng, xã
Ng Ch, huyện Đ D, tỉnh Cà Mau (có mặt);
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thúy K; Cùng cư trú tại: Ấp K Ng, xã Q Ph B, huyện Đ D, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Tiêu Thị T; Sinh năm 1961; Cư trú tại: Ấp T Ng, xã Ng Ch, huyện Đ D, tỉnh Cà Mau (có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết và tại phiên tòa, nguyên đơn ông H trình bày:
Từ năm 2012 đến năm 2019, ông N và bà K nhiều lần đến đại lý thức ăn của ông H để mua thức ăn và thuốc thủy sản phục vụ nuôi tôm công nghiệp. Theo thỏa thuận các bên, sau mỗi vụ nuôi tôm, ông N và bà K sẽ thanh toán tiền mua thức ăn và thuốc thủy sản. Đến năm 2019, ông N và bà K ngưng nuôi tôm nhưng vẫn còn nợ ông H số tiền chưa thanh toán, ông N có ký giấy xác nhận công nợ và cam kết thanh toán. Nay ông H yêu cầu ông N và bà K trả số tiền 126.260.000 đồng.
* Đối với ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thúy K:
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông N và bà K biết về yêu cầu khởi kiện của ông H nhưng ông N và bà K từ chối nhận văn bản tố tụng của Tòa án và không có ý kiến hay yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng thời ông N và bà K cũng không tham gia hòa giải, xét xử tại Tòa án.
* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Tiêu Thị T trình bày:
Việc giao dịch mua bán thức ăn nuôi tôm, thuốc thủy sản phục vụ nuôi tôm công nghiệp giữa ông H với ông N và bà K là đúng. Mặc dù giấy tờ giao dịch đều do ông H đứng tên, nhưng thực chất hoạt dộng kinh doanh mua bán đều có bà tham gia cùng ông H. Do đó, yêu cầu buộc trách nhiệm ông N và bà K trả nợ cho bà và ông H vì đây là tài sản chung của bà và ông H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thúy K đã được Tòa án triệu tập tham gia xét xử đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến Hnh xét xử vắng mặt đối với các đương sự là đúng quy định.
Về quan hệ tranh chấp: Ông Phạm Văn H khởi kiện yêu cầu ông N và bà K trả lại số tiền mua bán thức ăn và thuốc thủy sản nuôi tôm công nghiệp. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự cụ thể hợp đồng hợp đồng mua bán tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[3] Xét nội dung khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng: Ông N và bà K đã được thông báo về nội dung khởi kiện của nguyên đơn, nhưng không đồng ý nhận văn bản tố tụng của Tòa án và không có ý kiến phản đối. Theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Đồng thời, tại biên bản làm việc về việc xác nhận công nợ và cam kết thanh toán ngày 07/5/2022 (BL 03) có chữ ký tên Nguyễn Văn N xác nhận công nợ và ông N, bà K cũng không thể hiện ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên khẳng định việc ông N và bà K mua thức ăn tôm và các loại thuốc thủy sản chưa thanh toán đầy đủ và còn nợ nguyên đơn số tiền 126.260.000 đồng là có xảy ra, việc này làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Mặc dù theo giấy xác nhận công nợ chỉ có ông N ký tên, nhưng ông H xác định quá trình giao dịch mua bán đều cùng với ông N và bà K, mặt khác khoản nợ này phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của ông N và bà K, bà K cũng không có ý kiến phản đối yêu cầu của nguyên đơn như phân tích trên. Vì vậy, ông N và bà K phải cùng có trách nhiệm trả nợ là đúng quy định tại Điều 440 của Bộ luật Dân sự.
Đối với yêu cầu của bà Tiêu Thị T: Tại phiên tòa, ông H và bà T xác định đây là tài sản chung của ông và bà T phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của ông bà, do đó bà T yêu cầu tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời yêu cầu ông N và bà K thanh toán nợ cho bà và ông H là có cơ sở được chấp nhận theo quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình.
Đối với lãi suất chậm trả của khoản tiền trên: Ông H, bà T không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét là phù hợp.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông N và bà K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 6.313.000 đồng (126.260.000 đồng x 5%) tương ứng số tiền phải trả.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 4 Điều 68, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 440 của Bộ luật Dân sự; Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn H.
Buộc ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thúy K có trách nhiệm liên đới trả cho ông Phạm Văn H và bà Tiêu Thị T số tiền mua thức ăn và thuốc thủy sản nuôi tôm công nghiệp 126.260.000 đồng (một trăm hai mươi sáu triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi Hnh án của người được thi Hnh án cho đến khi thi Hnh án xong đối với tất cả các khoản tiền, Hng tháng người phải thi Hnh án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi Hnh án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thúy K phải chịu 6.313.000 đồng (sáu triệu ba trăm mười ba nghìn đồng), (chưa nộp).
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi Hnh theo quy định tại Điều 2 Luật thi Hnh án dân sự thì người được thi Hnh án dân sự, người phải thi Hnh án dân sự có quyền thỏa thuận thi Hnh án, quyền yêu cầu thi Hnh án, tự nguyện thi Hnh án hoặc bị cưỡng chế thi Hnh án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi Hnh án dân sự; thời hiệu thi Hnh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hnh án dân sự.
4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viển kiểm sát nhân dân huyện Đ D; - Chi cục thi Hnh án dân sự huyện Đ D; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã Ký) Nguyễn Ngọc Trúc |