vanban.org

Bản án 133/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 28/06/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/06/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn L xin giảm nhẹ hình phạt, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo xin hưởng án treo; giữ nguyên Bản án 16/2022/HS-ST ngày 14/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa: Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự phúc thẩm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133/2022/HS-PT
Ngày: 28/6/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hiệu

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Phương Thanh

Bà Nguyễn Thu Hà

- Thư ký phiên tòa:Bà Đỗ Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 159/2022/TLPT-HS ngày 23 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo Bùi Văn L, do có kháng cáo của bị cáo Bùi Văn L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2022/HS-ST ngày 14 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị cáo bị kháng cáo:

Bùi Văn L, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1992; tại xã K, huyện Ng, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn M, xã K, huyện Ng, tỉnhThanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Đ và bà Lê Thị T (đã chết); có vợ là Hà Thị H và 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Ngoài ra còn có bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị: Hà Cẩm T, Bùi Văn V; vắng mặt.

- Bị hại: Anh Tống Bá Ph, sinh năm 1999, vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn 5, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 16/10/2021, Bùi Văn V đi cùng Hà Cẩm T đến quán lẩu nướng BBQ New ở thôn B, xã K, huyện Ng để đón chị Lữ Thị B là vợ của V. Khi đến quán BBQ New V hỏi chị Lại Thị L chủ quán mua 01 nồi lẩu giá 150.000 đồng, chị L trả lời không có nồi lẩu với giá đó, giá thấp nhất quán bán cho khách là 350.000 đồng. Do không đủ tiền mua nên V và Tùng đi đến từng bàn khách đang ăn trong quán để chúc rượu, sau đó V và T đến bàn của anh Tống Bá Ph và anh Nguyễn Công Th để chúc rượu. T say rượu nói lảm nhảm nên anh Ph yêu cầu T đi ra chỗ khác, lúc này giữa T và anh Ph xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, anh Ph dùng tay tát T vào mặt T 01 cái, khiến anh T ngã xuống sàn nhà, thấy có xô xát trong quán chị L cùng mọi người đến can ngăn anh Ph, thì anh Ph dừng lại, còn T được V đỡ dậy đi lên xe mô tô rời khỏi quán.

V điều khiển xe mô tô chở T ngồi phía sau, T nói V đi đến quán vịt nướng của anh Bùi Văn T1 ở cùng thôn, cách quán lẩu nướng BBQ New khoảng 500 mét tìm Bùi Văn L, đến nơi T vào quán gặp L, còn V đứng ngoài chờ. Gặp L, T nói với L “anh vừa bị đánh ở quán BBQ New, lên đánh giúp anh”, L nói “để đó em đánh cho”. L cầm theo 01 con dao dài khoảng 30cm đến 35cm, màu đen, cán gỗ, giắt vào sau lưng chạy đến quán BBQ New, V và T chạy theo phía sau. Đến quán BBQ New, V dùng tay chỉ cho L biết người nào ngồi trong quán là Ph, để L đánh anh Ph, L rút dao ở sau lưng ra và đi đến chỗ anh Ph, thấy L cầm dao đi đến chỗ mình để chém, anh Ph cầm ghế gỗ trong quán giơ lên đỡ thì bị L chém vào tay, anh Ph ném ghế gỗ bỏ chạy ra đường Hồ Chí Minh về hướng thị trấn Ngọc Lặc, L cầm dao đuổi theo sau, anh Ph chạy được khoảng 100m đến trước sân nhà bà Lê Thị Q ở thôn B, xã K thì bị L đuổi đến, L dùng dao chém về phía anh Ph 3 đến 4 nhát trúng vào tay và chân anh Ph, sau đó anh Ph chạy vào trong nhà bà Q, L đuổi theo anh Ph, nhưng bị bà Q ngăn cản, nên L dừng lại và đi về nhà. Trên đường về L ném con dao vào bụi cỏ ven đường Hồ Chí Minh.

Sau khi bị chém anh Ph bị thương được đưa đi điều trị tại bệnh viện đa khoa khu vực Ngọc Lặc.

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của Tống Bá Ph có các vết thương như sau:

- 1/3 giữa mặt ngoài cẳng tay phải có vết thương kích thước 8 x2cm, sắc gọn rách da cân cơ, sâu sát xương chảy máu.

- 1/3 dưới mặt ngoài cánh tay trái có vết thương kích thước 13 x2cm, sắc gọn, đứt cân cơ nhị đầu, mẻ xương cánh tay.

- 1/3 dưới cẳng tay trái có vết thương kích thước 3 x1cm, sát xương, chảy máu.

- Gan bàn tay trái có vết thương kích thước 5 x1cm, sắc gọn, xẻ dọc ngón 3, đứt gân gấp ngón 3,4 sát xương chảy máu.

- Ngón 5 tay trái, đốt 3 có vết thương kích thước 2 x 0,5cm, nham nhở sát xương, chảy máu.

- Mu bàn chân phải có vết thương kích thước 2 x 0,5cm nham nhở, sát xương chảy máu.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 730/2021/TTPY ngày 28/10/2021 của Trung tâm Pháp y Thanh Hóa kết luận: Tại thời điểm giám định pháp y về thương tích tổng tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Tống Bá Ph được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 12% (Mười hai phần trăm).

Vật chứng của vụ án: 01 con dao bằng kim loại dài khoảng 30 đến 35cm, cán gỗ, màu đen, Sau khi gây thương tích cho Tống Bá Ph, trên đường về nhà Bùi Văn Lan đã ném vào bụi cỏ ven đường Hồ Chí Minh, Cơ quan CSĐT đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả.

Về bồi thường thiệt hại: Các bị cáo đã bồi thường cho anh Tống Bá Ph số tiền 56.000.000 đồng, anh Ph đã nhận số tiền trên và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm.

* Tại Bản án số 16/2022/HS-ST ngày 14/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:

1. Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự; Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn L, Hà Cẩm T và Bùi Văn V phạm tội "Cố ý gây thương tích".

2. Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bùi Văn L 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

3. Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt Hà Cẩm T 24 (hai mươi tư) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt Bùi Văn V 24 (hai mươi tư) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên chế định án treo đối với bị cáo Hà Cẩm T và Bùi Văn V, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

* Ngày 18/4/2022, bị cáo Bùi Văn L kháng cáo Bản án hình sự số 16/2022/HS-ST ngày 14/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo rút nội dung kháng cáo xin hưởng án treo; giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn L xin giảm nhẹ hình phạt; giữ nguyên Bản án số 16/2022/HS-ST ngày 14/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Bùi Văn L làm theo đúng thủ tục và thời hạn kháng cáo quy định tại Điều 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn L xin rút nội dung kháng cáo xin hưởng án treo, giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Văn L trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu khác thu thập trong quá trình điều tra, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 16/10/2021 tại quán lẩu nướng BBQ New ở thôn B, xã K, huyện Ng, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi được Hà Cẩm T xúi giục và Bùi Văn V giúp sức, thì Bùi Văn L đã dùng dao bằng kim loại, dài khoảng 30 đến 35cm, cán gỗ, màu đen, chém nhiều nhát vào tay, chân, gây thương tích cho anh Tống Bá Ph, làm anh Ph tổn thương cơ thể là 12%.

Với hành vi dùng dao, vô cớ chém gây thương tích cho anh Tống Bá Ph tổn thương cơ thể là 12%. Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa tuyên xử bị cáo Bùi Văn L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Ðiều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc đầy đủ tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và nhân thân của bị cáo để quyết định mức hình phạt 27 tháng tù là phù hợp, có căn cứ.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Vì vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo xin hưởng án treo.

Về án phí phúc thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn L xin giảm nhẹ hình phạt, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo xin hưởng án treo; giữ nguyên Bản án 16/2022/HS-ST ngày 14/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa:

- Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn L 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

* Án phí phúc thẩm: Bị cáo Bùi Văn L phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

* Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

* Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ