- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; Điều 30 Luật Thi hành án dân sự Nơi nhận
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 133/2022/HNGĐ-ST Ngày: 26-7-2022 V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN,TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đ ng Th Di u Tiên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Thanh Tân.
- Bà Hồ Th Kim Liên.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Long Xuyên, tỉnh An Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa:
Không tham gia phiên tòa.
Trong ngày 26 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long
Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 157/2022/TLST-HNGĐ ngày 14
tháng 4 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết đ nh
đưa vụ án ra xét xử số 239/2022/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2022 giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Th S, sinh năm: 1991 (Có đơn xin vắng m t)
Đ a chỉ: số 270/24, tổ 16, khóm Tây Khánh 2, phường H, thành phố X, tỉnh An
Giang.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1991. (Vắng m t)
Đ a chỉ: số 15/2, Nguyễn Du, phường B, thành phố X, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị S có đơn xin xét xử vắng mặt và trong quá trình
giải quyết vụ án bà S trình bày: bà và ông T quen biết, tìm hiểu và đi đến hôn nhân
vào năm 2014 vợ chồng có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy đ nh pháp
luật vào năm 2015. Sau khi cưới nhau thì ông T cầm xe mô tô của bà lấy tiền trả nợ
cờ bạc, cá độ đá banh Trong thời gian chung sống với nhau ông T thường xuyên cá
độ đá banh gây nợ nần, bà nhiều lần đứng ra trả nợ cho ông T với số tiền khoảng
30 000 000 đồng Đến cuối năm 2019 ông T nợ tiền nhiều người nên bỏ trốn về nhà cha mẹ ruột ông T, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2019 cho đến nay. Bà nhận thấy tình cảm không còn, hôn nhân không hạnh phúc và không thể tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân nên bà yêu cầu ly hôn với ông T.
- Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 01/10/2015
hi n do bà đang nuôi dưỡng, hi n nay bà buôn bán tạp hóa, bán rau củ và bán hàng online tại nhà, thu nhập mỗi tháng khoảng 10 000 000 đồng đủ khả năng nuôi con nên không yêu cầu ông T cấp dưỡng
- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về nợ chung: không có
Bị đơn ông Nguyễn Thanh T vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên Tòa
án không thể ghi nhận ý kiến của ông T đối với yêu cầu khởi kiện của bà S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài li u có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh:
- Về thủ tục tố tụng:
Bà Nguyễn Th S yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh T. Ông T có nơi
cư trú tại phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang Nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy đ nh tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng m t, b đơn đã được tri u tập hợp l lần
thứ hai nhưng vẫn vắng m t nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng m t tất cả đương sự theo quy đ nh tại Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự
- Về nội dung:
Về quan h hôn nhân: Bà Nguyễn Th S và ông Nguyễn Thanh T xác lập
quan h vợ chồng và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy đ nh của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà được pháp luật thừa nhận và bảo v Khi vợ chồng chung sống thì phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng do bất đồng quan điểm sống, ông T thường xuyên cờ bạc, nợ nần nhiều người, mâu thuẫn kéo dài từ năm 2019 đến nay, bà S xác đ nh không còn tình cảm với ông T, vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm nên bà vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn Hội đồng xét xử nhận thấy, hôn nhân phải trên cơ sở tự nguy n, bà S xác đ nh không thể tiếp tục chung sống cùng với ông T, hôn nhân không hạnh phúc và vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2019 đến nay, giữa vợ chồng không còn thực hi n các quyền và nghĩa vụ cũng như không cố gắng hàn gắn, duy trì cuộc sống hôn nhân Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà S là phù hợp với quy đ nh tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng P, sinh ngày
01/10/2015 hi n đang sống chung với bà S, bà S yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Nhận thấy từ khi bà S và ông T không còn chung sống với nhau thì cháu P vẫn sống chung với bà S cho đến nay.
Xét thấy, trong thời gian cháu P sống với bà S, cháu P đã ổn đ nh về chỗ ở, điều ki n
sinh hoạt, học tập, tâm tư, tình cảm của cháu cũng gắn liền với mẹ, xét hoàn cảnh và
công vi c của bà S đảm bảo các điều ki n cần thiết cho vi c nuôi dưỡng cháu P. Do
đó, để duy trì cuộc sống ổn đ nh cho cháu, Hội đồng xét xử quyết đ nh giao cháu P
cho bà S trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy đ nh tại khoản 2 Điều 81
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Về cấp dưỡng nuôi con chung: do bà S không có yêu cầu nên không đ t ra
xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: ghi nhận ý kiến của bà S trình bày không có
nên không đề cập giải quyết
Về án phí: bà S phải ch u án phí sơ thẩm theo quy đ nh pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- Điều 28, 35, 39, 144, 147, 227, 228, 235, 238, 271, 273, 278 và Điều 280 Bộ
luật tố tụng dân sự
- Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014
- Điều 27 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và l phí Tòa án
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi ki n của bà Nguyễn Th S.
- Về quan h hôn nhân: Bà Nguyễn Th S được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 16/2015, quyển số 01/KH, ngày 26/02/2015 do
UBND phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp không còn giá tr
pháp lý.
- Về con chung: Bà Nguyễn Th S được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo
dục con chung tên Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 01/10/2015.
Ông Nguyễn Thanh T không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng ông có
quyền tới lui thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản
ông T thực hi n quyền này
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm
quyền, Toà án có thể quyết đ nh thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp
dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy đ nh
- Về tài sản chung: không xem xét, giải quyết
- Về nợ chung: ghi nhận bà Nguyễn Th S và ông Nguyễn Thanh T xác đ nh
không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hi u lực pháp luật nếu có nguyên
đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì bà Nguyễn Th S và ông Nguyễn Thanh T vẫn phải liên đới ch u trách nhi m với tư cách b đơn trong vụ án dân sự khác.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Th S phải ch u 300 000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự
sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300 000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001158 ngày 07/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang Bà S đã nộp xong
Bà Nguyễn Th S, ông Nguyễn Thanh T được quyền kháng cáo trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày nhận được bản án ho c bản án được niêm yết theo quy đ nh pháp luật
Trường hợp bản án được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án ho c b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy đ nh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Long Xuyên; - TAND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS thành phố Long Xuyên; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - VP (5)./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đ n Th D T n |