vanban.org

Bản án 133/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị A.

Chị Trương Thị A và anh Lê Thành B được ly hôn. Về con chung: giao con chung tên Lê Hồng D, (giới tính: Nam), sinh ngày 22/4/2005 cho chị Trương Thị A trực tiếp trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, ghi nhận chị A không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Lê Lan C (giới tính: … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn A và B"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị A.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự đây
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HÒA THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133/2022/HNGĐ-ST
Ngày 22-12-2022
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hòa.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Huỳnh Hoa Thiên Lý;

2. Ông Đặng Thanh Quang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hiên, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lâm Thúy Vi, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 274/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 125/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị A, sinh năm 1983; địa chỉ thường trú: số nhà 9/2C, tổ 2, ấp Long Bình, xã Long Thành Nam, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; địa chỉ hiện nay: ấp Long Hải, xã Trường Tây, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Lê Thành B, sinh năm 1981; địa chỉ: số nhà 9/2C, tổ 2, ấp Long Bình, xã Long Thành Nam, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 10 năm 2022 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – chị Trương Thị A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Lê Thành B kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Thành Nam, thị xã xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh vào ngày 31/12/2002. Vợ chồng chung sống tại ấp Long Hải, xã Trường Tây, thị xã Hòa Thành, thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến khi sinh con đầu tiên năm 2003 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn lý do anh B thường xuyên say sỉn, không lo làm ăn, đánh đập vợ con, đến khoảng đầu năm 2021 thì vợ chồng sống ly thân, anh B về nhà mẹ ruột tại số nhà 9/2C, tổ 2, ấp Long Bình, xã Long Thành Nam, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh ở, từ đó đến nay vợ chồng không có gặp mặt và cũng không ai quan tâm ai. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Thành B.

Về con chung: chị và anh Lê Thành B có 02 con chung: Lê Lan C (giới tính: Nữ), sinh ngày 22/01/2003 và Lê Hồng D, (giới tính: Nam), sinh ngày 22/4/2005, hiện 02 cháu đang sống chung với chị. Đối với cháu Lê Hồng D chị yêu cầu được trực tiếp trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Lê Lan C đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án – bị đơn Lê Thành B đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập nhiều lần theo quy định nhưng anh B không cung cấp Văn bản trình bày ý kiến cũng như không đến Tòa án để làm việc.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị A đối với anh Lê Thành B; giao con chung cho chị A trực tiếp trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ghi nhận chị A không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết; về án phí tính theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

. Về Thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ tranh chấp: nguyên đơn – chị Trương Thị A khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn – anh Lê Thành B và yêu cầu được nuôi con, do bị đơn hiện đang cư trú tại xã Long Thành Nam, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh do đó căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” nên Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh thụ lý và giải quyết là đúng quy định của pháp luật.

Về tố tung: bị đơn –anh Lê Thành B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần tham gia phiên tòa nhưng anh B vắng mặt không lý do, nguyên đơn – chị Trương Thị A có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt do đó căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

. Về nội dung:

. Về quan hệ hôn nhân: chị Trương Thị A và anh Lê Thành B chung sống và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Thành Nam, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh vào ngày 31/12/2002, nên hôn nhân giữa chị A và anh B là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Chị A trình bày, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ năm 2003 nguyên nhân chủ yếu là do anh B thường xuyên say sỉn, không lo làm ăn, đánh đập vợ con, đến khoảng đầu năm 2021 thì vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay vợ chồng không gặp mặt, cũng không còn quan tâm nhau nên chị A khởi kiện xin ly hôn với anh B. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh B đến Tòa nhưng anh B cố tình trốn tránh không hợp tác, không tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa cũng như không có văn bản trình bày quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của chị A, cho thấy anh B không có thiện chí được đoàn tụ.

Mặc khác, Tòa án có tiến hành lấy lời khai cháu Lê Hồng D là con chung của chị A và anh B, cháu cũng thừa nhận anh B thường xuyên say sỉn đánh đập chị A. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị A và anh B đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không có khả năng đoàn tụ; xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trương Thị A đối với anh Lê Thành B theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: chị A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Hồng D, do anh B không có văn bản trình bày ý kiến, tại biên bản lấy lời khai ngày 18/11/2022 cháu D trình bày mong muốn được sống cùng với chị A, do đó cần giao cháu Lê Hồng D, (giới tính: Nam), sinh ngày 22/4/2005 cho chị Trương Thị A trực tiếp trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, ghi nhận chị A không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Lê Lan C đã thành niên nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

. Về tài sản chung, nợ chung: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị Trương Thị A phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị A.

Chị Trương Thị A và anh Lê Thành B được ly hôn.

2. Về con chung: giao con chung tên Lê Hồng D, (giới tính: Nam), sinh ngày 22/4/2005 cho chị Trương Thị A trực tiếp trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, ghi nhận chị A không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Lê Lan C (giới tính: Nữ), sinh ngày 22/01/2003 đã thành niên nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

Anh Lê Thành B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

2. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị Trương Thị A phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí khởi kiện đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0021042 ngày 14-10-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; ghi nhận chị A đã nộp xong.

4. Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

5. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ