vanban.org

Bản án 133/2022/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Buộc ông Danh D trả cho bà Diệp Thị O số vàng 02 chỉ vàng 24k (Hai chỉ vàng hai mươi bốn kara).

Về án phí: Ông Danh D được miễn theo quy định của pháp luật. Bà Diệp Thị O được nhận lại số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006383 ngày 17/3/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Án xử sơ thẩm công khai: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án này trong… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Diệp thị o"
  • Tòa quyết gì? Buộc ông Danh D trả cho bà Diệp Thị O số vàng 02 chỉ vàng 24k (Hai chỉ vàng hai mươi bốn kara).
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 157 Bộ luật Dân sự
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133/2022/DS-ST
Ngày 28 tháng 4 năm 2023
V/v tranh chấp Đòi lại tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

1. Ông Bùi Xuân Minh

2. Ông Nguyễn Việt Thắng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 186/2023/TLST-DS ngày 17 tháng 3 năm 2023 về việc tranh chấp Đòi lại tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2023/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Diệp Thị O, sinh năm 1965 (có mặt)

- Bị đơn: Ông Danh D, sinh năm 1959 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 17/3/2023 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Diệp Thị O trình bày: Vào năm 2008, bà có cố 05 công đất của ông Danh D với giá 02 lượng vàng 24k, thời hạn cố là 02 năm nhưng đến đầu năm 2021 thì ông D mới chuộc lại đất, nhưng chỉ trả cho bà 1,8 lượng vàng 24k, số vàng còn lại 02 chỉ vàng 24k hẹn thu hoạch xong vụ lúa sẽ trả nhưng đến nay không trả. Sau đó bà yêu cầu đến chính quyền địa phương ấp K B để giải quyết.

Ngày 05/3/2023, tổ hòa giải ấp Kinh Đứng B tiến hành hòa giải thì ông Danh D thừa nhận còn nợ lại bà số vàng 2 chỉ vàng 24k và đồng ý trả nhưng trả trong vòng 01 năm. Từ đó bà không đồng ý.

Nay bà yêu cầu ông Danh D có nghĩa vụ trả lại cho bà 02 chỉ vàng 24k.

- Ông Danh D trình bày: Tại biên bản hòa giải ở địa phương ngày 05/3/2023, ông thống nhất còn nợ lại 02 chỉ vàng 24k và đồng ý trả trong thời hạn 01 năm. Nhưng hiện nay ông chưa có khả năng để trả cho bà O. Phần đất thì ông đã nhận lại và đã quản lý, canh tác 02 năm nay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền: Ông Danh D có nơi cư trú tại ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; nội dung tranh chấp Đòi lại tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

-Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Liên quan đến số vàng mà ông D1 Dál chuộc lại đất còn thiếu lại. Ngày 05/3/2023, Tổ hòa giải ấp Kinh Đứng B tiến hành hòa giải ông thừa nhận còn nợ bà O 02 chỉ vàng 24k và cam kết trả trong vòng 12 tháng nhưng nay ông chưa trả nên bà O khởi kiện yêu cầu ông trả số vàng trên. Như vậy, quan hệ tranh chấp là tranh chấp Đòi lại tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 của Bộ luật dân sự 2015;

Về nội dung tranh chấp: Theo bà O trình bày, vào năm 2008, bà có nhận cố 05 công đất của ông Danh D với số vàng 02 lượng vàng 24k. Đến cuối năm 2021 ông D mới chuộc lại đất nhưng chỉ trả cho bà 1,8 lượng vàng 24k, còn lại 02 chỉ vàng 24k hẹn đến thu hoạch vụ lúa sẻ trả nhưng đến nay không trả.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn trả 02 chỉ vàng 24k mà bị đơn còn nợ khi thực hiện giao dịch cầm cố đất với nhau còn nợ lại. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình; trong giai đoạn xét xử nguyên đơn có cung cấp cho Tòa án tờ cố đất lập năm 2008, biên bản hòa giải cơ sở ngày 05/3/2023 của Tổ hòa giải ấp Kinh Đứng B, có thể hiện nội dung bị đơn có nợ 02 chỉ vàng 24k và đồng ý trả.

Tại phiên tòa bị đơn xác định còn nợ nguyên đơn 02 chỉ vàng 24k và đồng ý trả nhưng hiện nay chưa có khả năng để trả.

Xét, giao dịch cố đất còn nợ lại 02 chỉ vàng 24k là thực tế có xảy ra, tại biên bản hòa giải cơ sở ngày 05/3/2023 và tại phiên tòa bị đơn thừa nhận nên đây được xem là chứng cứ có thật, không cần phải chứng minh được quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khẳng định về chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp, cũng như lời thừa nhận của bị đơn là hợp lệ, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về án phí: Do bị đơn là người cao tuổi nên xét miễn án phí cho bị đơn theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 266; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 157 và Điều 166 của Bộ luật dân sự 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Buộc ông Danh D trả cho bà Diệp Thị O số vàng 02 chỉ vàng 24k (Hai chỉ vàng hai mươi bốn kara). Vàng 24k tại thời điểm xét xử có giá trên thị trường 5.640.000 đồng/chỉ.

2. Về án phí: Ông Danh D được miễn theo quy định của pháp luật. Bà Diệp Thị O được nhận lại số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006383 ngày 17/3/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

3. Án xử sơ thẩm công khai: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ