vanban.org

Bản án 133/2022/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND huyện Châu Phú, tỉnh An Giang Tuyên án 14/07/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu buộc anh Nguyễn Long G bồi thường hàm răng giả với giá 600.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003596 ngày 28/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Đòi bồi thường thiệt hại về tài sản"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu buộc anh Nguyễn Long G bồi thường hàm răng giả với giá 600.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU PHÚ
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133/2022/DS-ST
Ngày: 14/ 7/ 2022
V/v tranh chấp về bồi thường
thiệt hại do tài sản bị xâm
phạm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Điệp

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Nguyễn Văn Giữ

2.Ông Nguyễn Hoàng Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Hoàng, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kim Trang - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 40/2022/TLST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2022 tranh chấp về bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 180/2022/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1964; nơi cư trú: Số nhà 401, tổ 11, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang, (có mặt)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Long G, sinh ngày 17/6/2000; nơi cư trú: Số nhà 399, tổ 11, ấp B, xã B, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, (vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Văn Sơn, sinh năm 1974; nơi cư trú: Số nhà 399, tổ 11, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (đại diện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền ngày 25/5/2022), (có mặt)

-Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

Bà Trần Thị Kim C, sinh năm 1975, nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; (có mặt)

Bà Nguyễn Thị V sinh ngày 06/4/1975; nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt)

Ông Đào Đình Mỹ Đ, sinh năm 1974; nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:

Ngày 10/8/2021, bà đang ở sau nhà mẹ bà là Võ Thị M thì Nguyễn Long G vào đánh bà. Nguyễn Long G dùng tay xô bà ngã và dùng tay đánh bà. Nguyễn Long G đánh bà rơi mất hàm răng giả. Vị trí xảy ra vụ việc là nền xi măng. Sau khi Nguyễn Long G được mọi người can ngăn và giải tán thì bà phát hiện ra mất hàm răng giả. Bà có đi tìm nhưng không gặp. Bà đi lòng vòng la lên mất hàm răng giả.

Khi sự việc xảy ra thì bà có báo Công an xã B. Tại Công an xã B bà yêu cầu Nguyễn Long G bồi thường hàm răng cho bà. Bà sử dụng răng giả nguyên hàm trên 10 cây, có thể gắn vào và tháo ra. Bà đã làm răng giả cách nay mấy năm, giá tại thời điểm bà làm là 600.000đồng/cây, không phải là răng sứ. Bà sử dụng hàng ngày nhưng từ khi bà bị Nguyễn Long G đánh làm mất hàm răng giả đến nay thì bà chưa có tiền làm lại hàm răng. Khi Nguyễn Long G đánh bà thì có bà Nguyễn Thị V là em ruột bà và Trần Thị Kim C là mẹ của Nguyễn Long G vào can ngăn.

Bà yêu cầu Nguyễn Long G bồi thường chi phí làm lại hàm răng giả của bà bị mất do bị Nguyễn Long G đánh với giá 600.000đồng/cây x 10 cây = 6.000.000đồng.

* Bị đơn anh Nguyễn Long G trình bày:

Bà Nguyễn Thị N là cô ruột của anh. Bà Nguyễn Thị N có mâu thuẫn với cha mẹ anh, từ năm 2020 bà N thường xuyên chửi rủa gia đình anh. Hiện nay anh đang còn chung sống với cha mẹ. Buổi sáng ngày 10/8/2021, tại khoảng sân xi măng trống trước bếp nhà bà nội anh, giữa nhà ba mẹ anh với nhà bà nội. Do bà Nguyễn Thị N chửi mắng cha mẹ anh nên anh ra hỏi tại sao lại chửi gia đình anh. Bà Nguyễn Thị N đứng dậy quá gần nên anh có đẩy bà N ra. Bà N xông tới đánh anh. Anh chỉ mới giữ bà N, không dùng vũ lực để đánh bà N. Bà N đã làm rách áo và làm trầy ngực anh. Sau khi anh được can ngăn, anh về nhà thì bà N tiếp tục cầm cây chửi và khiêu kích. Gia đình anh mới báo Ban ấp xuống để giải quyết, ban ấp phải xuống 02 lần để hòa vì bà N tiếp tục chửi rủa gia đình anh.

Sự việc hôm đó có mẹ anh là Trần Thị Kim C, dượng út là ông Đào Đình Mỹ Đ ở kế bên nhà, có cô út là Nguyễn Thị V chứng kiến và can ngăn. Sau khi được can ngăn ra bà N không nói mất hàm răng giả. Khi đại diện ban ấp Bình Hưng 1 người tên Bình xuống giải quyết vụ việc bà N cũng không nói mất hàm răng. Tại Đơn thưa bà Nguyễn Thị N gửi tại Công an xã cũng không đề cập đến việc bị mất hàm răng.

Vì vậy, Bà Nguyễn Thị N yêu cầu anh bồi thường chi phí làm lại hàm răng giả của bà bị mất do bị anh đánh với giá 600.000đồng/cây x 10 cây = 6.000.000đồng là không có căn cứ.

* Tại phiên toà:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N giữ yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn anh Nguyễn Long G do ông Nguyễn Văn S đại diện theo ủy quyền không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

Về nội dung: Bà Nguyễn Thị N yêu cầu Nguyễn Long G bồi thường chi phí làm lại hàm răng giả của bà bị mất do bị Nguyễn Long G đánh với giá 600.000đồng/cây x 10 cây = 6.000.000đồng. Ngay tại thời điểm xảy ra sự việc không ai nghe bà N nói mất hàm răng giả. Bà N không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc mất hàm răng giả là do Nguyễn Long G gây ra. Anh Nguyễn Long G không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị N. Vì vậy, Bà Nguyễn Thị N yêu cầu bồi thường thiệt hại là không có căn cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng

Bà Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Long G bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm nên thuộc tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định tại khoản 6 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Long G cư trú tại xã B, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Châu Phú thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án

Ngày 10/8/2021, Bà Nguyễn Thị N cho rằng Nguyễn Long G đánh và xô bà ngã ra nền xi măng nên hàm răng giả gồm 10 cái rơi ra mất, chi phí làm lại hàm răng là 600.000đồng/cây x 10 cây = 6.000.000đồng. Anh Nguyễn Long G thừa nhận có đẩy bà N ra, không thừa nhận có hành vi đánh bà N, không làm mất hàm răng giả của bà N.

Những người làm chứng thấy bà Nguyễn Thị N nắm áo của Nguyễn Long G, không thấy Nguyễn Long G có hành vi đánh bà N và được can ngăn ra. Tại thời điểm diễn ra sự việc ngày 10/8/2021, không ai nghe bà N nói mất hàm răng, không thấy bà N bị thương tích. Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị N thừa nhận: Hàm răng giả có 02 móc để móc vào những cây răng thật, chỉ khi tác động trực tiếp vào hàm răng mới lấy ra được; Do Nguyễn Long G xô bà ngã nên bà bị rơi mất hàm răng giả; Bà không bị thương tích, không bầm tím mặt, không đau tại vùng mặt; Sự việc xảy ra khoảng 07 đến 08 giờ sáng, sau khi được mọi người can ra thì bà có cầm cây đi tới đi lui chửi phía Nguyễn Long G và tới khoảng 12 giờ đến 13 giờ cùng ngày bà mới phát hiện mất hàm răng. Bà Nguyễn Thị N không cung cấp dược chứng cứ chứng minh ngày 10/8/2021, bà bị mất hàm răng giả là do Nguyễn Long G gây ra. Vì vậy, Không có căn cứ xác định bà Nguyễn Thị N mất hàm răng giả là hậu quả của hành vi xô xát giữa bà Nguyễn Thị N với anh Nguyễn Long G.

Khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh sự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Bà Nguyễn Thị N yêu cầu anh Nguyễn Long G bồi thường hàm răng giả của bà bị mất do anh Nguyễn Long G đánh, giá bồi thường là 600.000đồng/cây x 10 cây = 6.000.000đồng. Anh Nguyễn Long G không có hành vi gây ra mất hàm răng giả của bà Nguyễn Thị N. Vì vậy, anh Nguyễn Long G không phải bồi thường.

Về án phí: Do bà Nguyễn Thị N khởi kiện không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 147, Điều 235 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

X ử:

Không chấp nhận yêu cầu buộc anh Nguyễn Long G bồi thường hàm răng giả với giá 600.000đồng/cây x 10 cây = 6.000.000đồng của bà Nguyễn Thị N.

Về án phí:

Bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003596 ngày 28/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Thời hạn kháng cáo đối với bản án của các đương sự có mặt tại phiên tòa là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ