| T A N NH N D N T NH B NH TH N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 133/2022/DS-PT Ngày: 10 - 11 -2022 V/v: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC C N C6 X H CH N H A V T NAM
T A N NH N D N T NH B NH TH N
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phước Hiệu;
Các Thẩm phán: - Ông Nguyễn Văn Thành;
- Ông Đặng Văn Cường;
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Minh Khuê Thư Toà án nh n d n t nh B nh Thu n
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Phương Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nh n d n t nh B nh Thu n xét xử phúc thẩm công hai vụ án thụ l số 55/2020/TLPT-DS ngày 23 tháng 6 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án d n sự sơ thẩm số 07/2020/DS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2020 của Toà án nh n d n huyện Z bị háng cáo
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 144/2022/QĐ – PT ngày 18 tháng 10 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Xuân A1, sinh năm 1958 và bà Trần Thị A2, sinh năm 1958 Cùng địa ch : KP X1 thị trấn Y huyện Z t nh B nh Thu n Bà A2 ủy quyền cho ông A1 tham gia tố tụng. Có mặt
- Bị đơn: Bà Lê Thị A3 sinh năm 1965 và ông Lê Đ nh A2 sinh năm 1959. Cùng địa ch : xóm 2, thôn 3, xã X2 huyện Z t nh B nh Thu n Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê Đ nh B1 sinh năm 1990; chị Lê Thị Hồng B2 sinh năm 1994; chị Lê Thị B3 sinh năm 2003 Cùng địa ch : Thôn 3 xã X2 huyện Z t nh B nh Thu n Anh B1 và chị B2 có mặt
- Chị Lê Thị Hồng B4 sinh năm 1992 Địa ch : Thôn 1 xã Y1 huyện Z, t nh B nh Thu n.
Chị B4 và chị B3 ủy quyền cho bà Lê Thị A3 tham gia tố tụng tại phiên tòa.
- Những người làm chứng:
1 Ông Lê Ngọc C1, sinh năm 1979 Địa ch : Thôn 3 xã X2 huyện Z, t nh B nh Thu n; vắng mặt
2. Ông Nguyễn Ngọc C2 sinh năm 1956 Địa ch : Thôn 1, xã X2 huyện Z t nh B nh Thu n; vắng mặt
3. Ông Hoàng Phi C3 sinh năm 1950 Địa ch : Ấp 1 xã X2 huyện Y2, t nh Đồng Nai; vắng mặt
4 Bà Nguyễn Thị C4 sinh năm 1964 Địa ch : Xóm 2 thôn 3 xã X2, huyện Z t nh B nh Thu n; vắng mặt
5 Ông Nguyễn Thanh C5 sinh năm 1967 Địa ch : Thôn 1 xã Y1 huyện Z t nh B nh Thu n; vắng mặt
6 Ông Lê Ngọc C6 sinh năm 1978 Địa ch : Thôn 3 xã X2 huyện Z, t nh B nh Thu n; có mặt
7 Bà Vũ Thị C7 sinh năm 1961 Địa ch : Khu phố X3 thị trấn Y huyện Z t nh B nh Thu n; có mặt
Người kháng cáo: Ông Lê Đ nh A2 và bà Lê Thị A3.
N D N VỤ ÁN:
Theo hồ sơ án sơ thẩm nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn ông Trần Xuân A1 và cũng là người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị A2 trình bày như sau:
Vào năm 1998 vợ chồng ông A1 và vợ chồng ông A2 thỏa thu n sang nhượng diện tích đất có chiều ngang 21m chiều dài 80m tại thôn 3 xã X2, huyện Z với số tiền 30 000 000đ Các bên viết giấy tờ tay thể hiện việc sang nhượng với nhau Sau hi giao đủ tiền th vợ chồng bà A3, ông A2 đã giao cho vợ chồng ông A1, bà A2 được quyền sử dụng đất Do giấy chứng nh n quyền sử dụng đất bà A3, ông A2 thế chấp tại Ng n hàng để vay tiền nên vợ chồng ông A1, bà A2 nhiều lần yêu cầu phải làm thủ tục sang nhượng quyền sử dụng đất theo quy định nhưng đến nay vẫn chưa làm thủ tục
Do vợ chồng ông A2, bà A3 hông làm thủ tục sang nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích đã nh n sang nhượng vào thời điểm năm 1998 cho vợ chồng ông A1, bà A2. Cho nên, ông A1, bà A2 đã hởi iện đến Tòa án yêu cầu vợ chồng ông A2, bà A3 phải có trách nhiện làm thủ tục sang nhượng Thế nhưng trong quá tr nh làm việc tại Tòa án bà A3, ông A2 hông chấp nh n tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Do đó vợ chồng ông A1 thay đổi yêu cầu hởi iện đề nghị tuyên bố giao dịch d n sự về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông A1, bà A2 với ông A2, bà A3 đã thực hiện vào năm 1998 là giao dịch d n sự vô hiệu Ông A1 đề nghị ông A2, bà A3 phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định
Bị đơn bà Lê Thị A3, ông Lê Đình A2 trình bày:
Vào năm 1998 vợ chồng ông A2, bà A3 thỏa thu n sang nhượng cho vợ chồng ông A1, bà A2 diện tích đất chiều ngang 20m chiều dài 60m tại thôn 3 xã X2 huyện Z với số tiền 30 000 000đ Tuy nhiên do vợ chồng ông A2, bà A3 cho thêm 1m chiều ngang Cho nên diện tích đất sang nhượng có chiều ngang là 21m Các bên thỏa thu n viết giấy tay thể hiện nội dung sang nhượng với nhau Bà Lê Thị A3 xác định diện tích đất mà các bên thỏa thu n sang nhượng thuộc một phần thửa đất số 145 tờ bản đồ số 17 giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số BQ 599388 ngày 13/01/2014 Tuy nhiên sau đó ông A2, bà A3 và ông A1, bà A2 thỏa thu n hóa đổi đất với nhau Vợ chồng ông A2, bà A3 giao cho ông A1, bà A2 được quyền sử dụng 02ha đất rẫy tại hu vực Núi Ch xã X2; còn ông A1, bà A2 phải trả lại cho vợ chồng bà A3, ông A2 diện tích đất đã sang nhượng vào năm 1998 Sau đó vợ chồng ông A1, bà A2 đã sang nhượng diện tích 02 ha đất rẫy lại cho người hác Do các bên đã thỏa thu n việc hóa đổi đất với nhau nên ông A1, bà A2 hông yêu cầu ông A2, bà A3 làm thủ tục sang nhượng quyền sử dụng đất theo quy định Do đó vợ chồng ông A2, bà A3 hông đồng làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông A1, bà A2 Hiện nay ông A1, bà A2 yêu cầu tuyên bố giao dịch d n sự về viêc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã thực hiện vào năm 1998 là vô hiệu thì bà A3, ông A2 đồng Thế nhưng ông A2, bà A3 hông đồng bồi thường thiệt hại v các bên đã hoán đổi đất cho nhau Cho nên ông A1, bà A2 không còn quyền g liên quan đến diện tích đất này
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Anh Lê Đình B1, chị Lê Thị Hồng B2, chị Lê Thị B3, chị Lê Thị Hồng B4 trình bày: Vấn đề tranh chấp đất đai giữa ông Trần XUÂN A1 và bà Lê Thị A3 ông Lê Đ nh A2 thì anh B1 chị B2 chị Anh chị B4 không có liên quan g Cho nên tất cả những vấn đề liên quan trong vụ án này đều do ông A2, bà A3 quyết định Anh B1 chị B2 chị Anh chị B4 hông có yêu cầu g liên quan đến vụ án
Trên cơ sở tài liệu chứng cứ do các bên đương sự cung cấp Tòa án nhân d n huyện Z đã tiến hành lấy lời hai các đương sự người làm chứng trong vụ án; xác minh những vấn đề liên quan trong vụ án Tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ; định giá tài sản; yêu cầu Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tiến hành đo đạc xác định vị trí diện tích đất tranh chấp
Các vấn đề đương sự thống nhất:
- Vào năm 1998 vợ chồng ông Trần XUÂN A1 bà Trần Thị A2 và ông Lê Đ nh A2 bà Lê Thị A3 thỏa thu n sang nhượng diện tích đất có chiều ngang 21m; chiều dài 80m với số tiền là 30 000 000đ Các bên viết giấy tay thể hiện việc sang nhượng với nhau
Tại phiên tòa ông Trần XUÂN A1 đề nghị tuyên bố giao dịch về việc sang nhượng đất này là giao dịch d n sự vô hiệu Bà Lê Thị A3 thống nhất đề nghị tuyên bố giao dịch d n sự vô hiệu
Các vấn đề đương sự không thống nhất.
- Ông Trần XUÂN A1 đề nghị giải quyết h u quả của giao dịch d n sự vô hiệu yêu cầu vợ chồng bà A3, ông A2 phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định Tuy nhiên bà A3, ông A2 hông đồng bồi thường thiệt hại v sau hi thỏa thu n sang nhượng diện tích đất có chiều ngang 21 m chiều dài 80m th các bên đã thỏa thu n hoán đổi đất với nhau Vợ chồng ông A1, bà A2 trả lại diện tích đất 21m x 80m để lấy diện tích 2ha đất rẫy tại hu vực Núi Chì, xã X2.
- Ông Trần XUÂN A1 hông chấp nh n phần tr nh bày của bà A3, ông A2 v trên thực tế các bên hông có thỏa thu n việc hoán đổi đất.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2020/DS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện Z đã quyết định:
Căn cứ vào: Khoản 9 Điều 26; hoản 1 điều 35 các điều 147 227 228 273 của Bộ lu t tố tụng D n sự; Các điều 131, 133, 136, 139, 146, 705, 707, 708 Bộ lu t d n sự năm 1995; Khoản 2 Điều 357 Bộ lu t d n sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
Ghi nh n sự tự nguyện của ông Trần XUÂN A1 và bà Lê Thị A3 về yêu cầu tuyên bố giao dịch d n về chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã thực hiện vào năm 1998 là giao dịch d n sự vô hiệu
Tuyên bố giao dịch d n sự về việc sang nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích 1 099 6m2 giữa ông Trần XUÂN A1 bà Trần Thị A2 và bà Lê Thị A3, ông Lê Đ nh A2 vào năm 1998 là giao dịch d n sự vô hiệu
Buộc bà Lê Thị A3 ông Lê Đ nh A2 phải trả cho vợ chồng ông Trần XUÂN A1 bà Trần Thị A2 số tiền là 831 00 000đ (Tám trăm ba mươi mốt triệu đồng) Trong đó gồm: 30 000 000đ tiền đã nh n vào thời điểm sang nhượng và 801 000 000đ hoản thiệt phát sinh.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp lu t.
Sau hi xét xử sơ thẩm bị đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu hởi iện; bị đơn thay đổi yêu cầu háng cáo cụ thể yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu hởi iện của nguyên đơn.
Đại diện Viện iểm sát nh n d n t nh B nh thu n phát biểu iến về việc tu n theo pháp lu t trong quá tr nh giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và quan điểm giải quyết vụ án:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ lu t Tố tụng d n sự; các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ lu t Tố tụng d n sự
- Về nội dung vụ án: Xét thấy bị đơn háng cáo cho rằng giữa nguyên đơn và bị đơn có thỏa thu n hoán đổi đất nhưng bị đơn hông cung cấp được tài liệu chứng cứ để chứng minh Tại cấp phúc thẩm Tòa án đã thu th p bổ sung tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của bị đơn nhưng vẫn hông có căn cứ chứng minh có việc hoán đổi đất như tr nh bày của bị đơn Do đó đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác háng cáo của bị đơn giữ nguyên bản án sơ thẩm
NH N ĐỊNH C A T A N:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Xét thấy bị đơn ông Lê Đ nh A2 và bà Lê Thị A3 háng cáo trong thời hạn và đúng quy định pháp lu t nên vụ án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm;
Tòa án cấp sơ thẩm thụ l giải quyết là đúng quy định tại điểm a hoản 1 Điều 35 điểm a hoản 1 Điều 39 của Bộ lu t Tố tụng d n sự; Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp cần giải quyết “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, cụ thể là yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là giao dịch d n sự vô hiệu” là đúng Tuy nhiên viện dẫn hoản 9 Điều 26 Bộ lu t tố tụng d n sự là hông chính xác V v y cần điều ch nh theo hoản 3 Điều 26 BLTTDS cho phù hợp.
[2] Xét háng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Quá tr nh giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn đều xác nh n: Vào năm 1998 giữa vợ chồng nguyên đơn và vợ chồng bị đơn có l p giấy viết tay thỏa thu n chuyển nhượng diện tích đất chiều ngang 21m chiều dài 80m tại thôn 3 xã X2 huyện Z với số tiền 30 000 000đồng Phía nguyên đơn đã giao đủ tiền cho bị đơn; nguyên đơn đã nh n đất quản l sử dụng.
Tuy nhiên vợ chồng bị đơn cho rằng: Sau hi sang nhượng th các bên đã thỏa thu n hoán đổi đất cụ thể: vợ chồng nguyên đơn trả lại diện tích đất đã nh n chuyển nhượng vào năm 1998 tại thôn 3 xã X2 cho bị đơn để nguyên đơn nh n 02 ha đất rẫy tại hu vực Núi Ch xã X2 Việc hóa đổi đất này các bên ch thỏa thu n miệng với nhau Để chứng minh lời tr nh bày nêu trên tại Tòa án cấp sơ thẩm phía bị đơn cung cấp 02 người làm chứng là ông Lê Ngọc C1 và Lê NgọcC6.
Quá tr nh giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã xác minh thu th p lời hai của 02 người làm chứng theo yêu cầu của bị đơn nhưng hông có căn cứ chứng minh 02 người làm chứng này biết được việc hoán đổi đất như lời hai của bị đơn Trong hi đó phía nguyên đơn hông thừa nh n có việc thỏa thu n hoán đổi đất
Căn cứ vào tài liệu thu th p có trong hồ sơ vụ án cũng như lời hai của phía bị đơn th có căn cứ xác định: Vào năm 2012 nguyên đơn ông Trần XUÂN A1 có thuê người đổ đất để n ng cao mặt bằng diện tích đất tranh chấp tại thôn 3 xã X2. Việc này bị đơn là ông A2 và bà A3 biết chứng iến nhưng hông phản đối Trong hi đó trong một số lời hai tại tòa án cấp sơ thẩm phía bị đơn cho rằng sau hi 02 bên xác l p chuyển nhượng đất tại thôn 3 xã X2 vào năm 1998 thì 05 ngày sau (bút lục số 28) 02 bên đã thỏa thu n miệng về việc hoán đổi đất là không phù hợp và hông có căn cứ để chấp nh n
Sau hi Tòa án nh n d n t nh B nh Thu n thụ l vụ án để giải quyết theo tr nh tự phúc thẩm:
Phía bị đơn cung cấp thêm một số nh n chứng trong đó có ông Hoàng Phi C3 là người nh n sang nhượng của bà Trần Thị A2 2 5ha đất vào ngày 18/7/2009 Bị đơn cho rằng diện tích đất này là vợ chồng nguyên đơn đã nh n hoán đổi đất với vợ chồng bị đơn mà có
Tại biên bản lấy lời hai ngày 05/7/2022 ông Hoàng Phi C3 khai: Vào năm 2009, ông C3 có nhận sang nhượng 2,5ha đất tại khu vực Núi Chì từ bà Trần Thị A2, khi sang nhượng trên đất đã có cây mì trồng cao từ 40 – 50 cm. Sau khi nhận sang nhượng khoảng 03 tháng thì bị Lâm trường thu hồi do đất lấn chiếm trái phép.
Phía nguyên đơn cung cấp thêm người làm chứng là bà Vũ Thị C7, sinh năm 1961 trú tại hu phố T n Thành TT Y huyện Z èm theo “Giấy bán đất và c y m trên đất” do bà Vũ Thị C7 xác l p chuyển nhượng cho bà Trần Thị A2 và xác định: diện tích 2 5ha đất mà nguyên đơn chuyển nhượng cho ông Hoàng Phi C3 vào năm 2009 là do nguyên đơn nh n chuyển nhượng từ bà Vũ Thị C7 trước đó và diện tích đất này bà C7 nh n chuyển nhượng từ vợ chồng bà Lê Thị A3. Do đó phía nguyên đơn cho rằng “Phía bị đơn hai giữa nguyên đơn và bị đơn có thỏa thu n việc hoán đổi đất” là hông có căn cứ
Tại biên bản lấy lời hai ngày 18/10/2022 bà Vũ Thị C7 sinh năm 1961 trú tại hu phố T n Thành TT Y huyện Z khai: vào năm 2008 – 2009, bà C7 có mua của vợ chồng bà Lê Thị A3 2,5 ha đất tại khu vực Núi Chì xã Y1. Sau khi trồng cây mì được 03 – 04 tháng thì chuyển nhượng lại cho vợ chồng bà Trần Thị A2 vào năm 2009. Bà C7 xác nhận vị trí đất mà bà nhận chuyển nhượng từ vợ chồng bà Lê Thị A3 và sang nhượng lại cho vợ chồng bà Trần Thị A2 cũng chính là diện tích đất mà bà Trần Thị A2 đã chuyển nhượng lại cho ông Hoàng Phi C3.
Như v y việc bị đơn háng cáo cho rằng giữa bị đơn và nguyên đơn có thỏa thu n việc nguyên đơn hoán đổi diện tích đất nh n chuyển nhượng tại thôn 3, xã X2 để lấy 2ha đất tại hu vực Núi Ch là hoàn toàn hông có căn cứ chứng minh.
Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm hi xét xử vụ án đã tu n thủ đúng quy định của pháp lu t về tố tụng d n sự; đã tiến hành xác minh thu th p tài liệu chứng cứ để giải quyết vụ án đảm bảo hách quan có căn cứ pháp lu t Do đó hông có căn cứ để chấp nh n háng cáo của bị đơn cần giữ nguyên bản án sơ thẩm theo đề nghị của Viện iểm sát nh n d n t nh B nh Thu n là đúng pháp lu t
Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Lê Đ nh A2 và bà Lê Thị A3 hông được chấp nh n nên ông A2, bà A3 phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp lu t.
V các lẽ trên
Q YẾT ĐỊNH:
Căn cứ hoản 1 Điều 308 hoản 1 Điều 148 Bộ lu t Tố tụng d n sự
Không chấp nh n háng cáo của ông Lê Đ nh A2 và bà Lê Thị A3. Giữ nguyên Bản án d n sự sơ thẩm số 07/2020/DS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện Z.
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; hoản 1 điều 35 các điều 147 227 228 273 của Bộ lu t tố tụng D n sự; Các điều 131, 133, 136, 139, 146 705 707 708 Bộ lu t d n sự năm 1995; Khoản 2 Điều 357 Bộ lu t d n sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
1/ Ghi nh n sự tự nguyện của ông Trần XUÂN A1 và bà Lê Thị A3 về yêu cầu tuyên bố giao dịch d n sự về chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã thực hiện vào năm 1998 là giao dịch d n sự vô hiệu
Tuyên bố giao dịch d n sự về việc sang nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích 1 099 6m2 đất giữa ông Trần XUÂN A1 bà Trần Thị A2 và bà Lê Thị A3 ông Lê Đ nh A2 vào năm 1998 là giao dịch d n sự vô hiệu
Buộc bà Lê Thị A3 và ông Lê Đ nh A2 phải trả cho vợ chồng ông Trần XUÂN A1 và bà Trần Thị A2 số tiền là 831.000 000đ (Tám trăm ba mươi mốt triệu đồng) Trong đó gồm: 30 000 000đ tiền đã nh n vào thời điểm sang nhượng và 801 000 000đồng là hoản thiệt hại phát sinh.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2/ Về án phí sơ thẩm: Buộc bà Lê Thị A3 phải nộp 18.615 000 (Mười tám triệu sáu trăm mười lăm ngàn) đồng án phí sơ thẩm;
Trả lại cho ông Trần XUÂN A1 300 000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số N 0012205 ngày 20/10/2017 của Chi cục thi hành án d n sự huyện Z.
3/ Về án phí phúc thẩm: Bà Lê Thị A3 và ông Lê Đ nh A2 mỗi người phải chịu 300 000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí phúc thẩm nhưng được hấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai số 003494 ngày 04/6/2020 và số 003498 ngày 05/6/2020 của Chi cục thi hành án d n sự huyện Z. Bà A3, ông A2 đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lu t thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Lu t thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t ể từ ngày tuyên án (ngày 10/11/2022).
| Nơi nhận: - VKSND t nh B nh Thu n; - TAND huyện T Linh; - Chi Cục THADS huyện T Linh; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa DS; Tổ HCTP. | TM.H ĐỒN XÉT XỬ THẨM PH N - CH TỌA PH ÊN T A (đã ) Trần Phước Hiệu |