- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Nhựt Huy - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nhựt H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 133/2020/HS-ST Ngày 04 – 8 – 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thúy Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Trọng Tâm – Nguyên giáo viên trường Cao đẳng Việt - Hàn.
Ông Nguyễn Việt Bằng – Giáo viên trung học phổ thông Hồ Thị Kỷ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Chưởng, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Lo – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 130/2020/TLST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 557/2020/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nhựt H, sinh ngày 15 tháng 7 năm 2002, tại Cà Mau.
Nơi cư trú: Ấp THiệp, xã TĐức, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Nhân viên phục vụ; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Thanh Liêm, 54 tuổi, con bà: Trần Ngọc Tuyết, sinh năm 1969 (cả 2 còn sống); Anh chị em ruột: 04 người, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 2004; Vợ, con: Chưa có. Tiền án: Không; tiền sự: Không. Nhân thân: Cho đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, chưa có án tích hay bị xử phạt, xử lý vi phạm hành chính.
- Tạm giữ ngày 13/01/2020;
- Cho bảo lĩnh tại ngoại và cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 15/01/2020.
Bắt truy nã và tạm giam ngày 08/6/2020 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cà Mau (Bị cáo có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Ngô Đình Chiến là luật sư của Văn phòng luật sư Ngô Đình Chiến, thuộc đoàn luật sư tỉnh Cà Mau (có mặt).
Bị hại:
- Anh Vũ Văn T, sinh năm 2001 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp XM, xã TÂ, huyện NH, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Cháu Lê Nhật T, sinh ngày 24/6/2003 (xin vắng mặt).
- Người đại diện hợp pháp của người bị hại: chị Vũ Thị T, sinh năm: 1979 (xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp XM, xã TÂ, huyện NH, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Trần Ngọc T, sinh năm: 1969 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp 7, xã AP, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 11/01/2020, Nhựt H và Phạm Việt B đến phòng trọ số L15 nhà trọ Hưng Huy, thuộc khóm 6, phường 1, thành phố Cà Mau để ở cùng phòng với Lê Nhật T và Vũ Văn Tg. Khoảng 19 giờ ngày 12/01/2020, T mượn xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe EXCITER 150, biển kiểm soát số 71C2-318.62 của Tg và kêu H điều khiển xe chở đi uống cà phê ở phường 5, thành phố Cà Mau. Đến khoảng 21 giờ 00 cùng ngày thì về phòng trọ. Lúc này, T và B đang ngủ, T lấy điện thoại di động hiệu OPPO A5 màu xám ra sạc pin ở phòng khách rồi đi tắm. Khi đó H nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô của T (do H còn giữ chìa khóa xe) và lấy trộm điện thoại của T, nên H đến lấy điện thoại tháo dây sạc pin ra cầm trên tay rồi vào phòng ngủ lấy 01 cái bóp da màu đen, trong bóp da có 01 giấy cầm điện thoại di động OPPO F5; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 giấy chứng minh nhân dân (phô tô) tên Vũ Văn Tg; số tiền 2.000 đồng của Tg cầm trên tay đi đến cầu thang thì H bỏ điện thoại và bóp da vào túi quần Jean phía trước bên trái rồi điện thoại cho B kêu đi về nhà có công chuyện. H đến chỗ để xe mô tô dùng chìa khóa mở xe, thì B hỏi xe của ai thì H nói xe mượn nên B không hỏi gì thêm, H điều khiển xe chở B chạy đi.
Sau khi tắm xong, T đi ra không thấy điện thoại và không thấy H, thì T xuống nơi để xe phát hiện xe bị mất, nên điện vào số điện thoại 0888.835214 của H hỏi thì H nói là đi ngoài đường và sau đó tắt nguồn điện thoại không liên lạc được. H điều khiển xe về đến nhà của B ở ấp Tân Hiệp, xã Tân Đức, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau ngủ.
Đến khoảng 08 giờ ngày 13/01/2020, H điều khiển xe mô tô đem điện thoại di động của T đến tiệm điện thoại Lâm N, thuộc ấp Thạnh Hòa, xã Tân Đức, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau bán cho anh Nguyễn L, sinh năm 1991, với giá 2.500.000 đồng. Sau đó, H đến nhà anh Trần Văn T, sinh năm 1983, địa chỉ: Ấp Tân Hiệp, xã Tân Đức, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau cho anh T 200.000 đồng, từ tiền bán điện thoại và trả cho B 1.000.000 đồng (H nợ B trước đó), số tiền còn lại sử dụng cho cá nhân.
Ngày 13/01/2020, T đến Công an phường 1, thành phố Cà Mau trình báo sự việc. Cơ quan điều tra tiến hành trích xuất đoạn camera ghi hình tại nhà trọ Hưng Huy. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau kết hợp với Công an xã Tân Đức, huyện Đầm Dơi mời H về làm việc và thu giữ tài sản gồm: 01 xe mô tô biển kiểm soát số 71C2-318.62; 01 cái bóp da màu đen, trong bóp có 01 giấy cầm điện thoại di động OPPO F5; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 giấy chứng minh nhân dân (phô tô) tên Vũ Văn Thắng; số tiền 260.000 đồng.
Ngày 13/01/2020 anh Nguyễn L đã giao nộp cho cơ quan điều tra 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A5 màu xám mà H đã bán cho anh L.
Ngày 14/01/2020 anh T đã giao nộp cho cơ quan số tiền 200.000đồng mà H đã cho anh T.
Ngày 30/01/2020 bà Trần Ngọc T mẹ ruột H giao nộp cho cơ quan điều tra số tiền 2.500.000đồng khắc phục hậu quả cho H.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐG ngày 20/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cà Mau kết luận:
Tính đến thời điểm tháng 01 năm 2020:
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe EXCITER 150, biển số 71C2-318.62, đã qua sử dụng, giá trị còn lại 80%.
29.000.000 đồng x 80% = 23.200.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A5 màu xám, đã qua sử dụng, giá trị còn lại 90%.
4.700.000 đồng x 90% = 4.230.000 đồng.
- 01 (một) cái bóp da màu đen, đã qua sử dụng, giá trị còn lại 90%.
100.000 đồng x 90% = 90.000 đồng.
Tổng cộng: 27.520.000 đồng.
Quá trình điều tra bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại Cáo trạng số 132/CT-VKS ngày 18/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo Nhựt H về tội “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nhựt H theo cáo trạng số: 132/CT-VKS ngày 18 tháng 6 năm 2020 và đề nghị:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nhựt H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo Nhựt H từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại đủ và không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không oan, không sai nên thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến gì khác. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất về tội danh, điều luật, tình tiết giảm nhẹ như đại diện Viện kiểm sát trình bày. Ngoài ra, bị cáo là người học thức thấp không biết chữ, nhận thức pháp luật kém, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã trả cho các bị hại, bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bên cạnh đó, bị cáo có tác động gia đình bồi thường cho người liên quan nên đề nghị áp dụng tình tiết quy định tại khoản khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, kiến nghị hội đồng xét xử áp dụng hình phạt đối với bị cáo ở mức thấp hơn so với đề nghị của viện kiểm sát.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, các bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, Kiểm sát viên Quá trình điều tra, bị cáo, các bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
Đối với bị hại anh Vũ Văn Tg, người liên quan Trần Ngọc T vắng mặt tại phiên tòa. Bị hại Lê Nhật T và Người đại diện hợp pháp của bị hại: chị Vũ Thị T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của các bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến nội dung xét xử vụ án nên căn cứ quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Tg, bà T, cháu T và chị T theo luật định.
Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nhựt H thừa nhận do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã lén lúc chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5 màu xám của Lê Nhật T, trị giá 4.230.000 đồng và 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe EXCITER 150 biển kiểm soát số 71C2-318.62; 01 cái bóp da, trong bóp có một số giấy tờ, số tiền 2.000 đồng của Vũ Văn Tg, trị giá tài sản là 23.292.000 đồng. Tổng số tài sản chiếm đoạt là 27.522.000 đồng (Hai mươi bảy triệu năm trăm hai mươi hai nghìn đồng), nhằm mục đích tư lợi cá nhân đúng như nội dung cáo trạng, không oan, sai.
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Cáo trạng số 132/CT-VKS ngày 18/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách bất hợp pháp, hành vi đó đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Hành vi của bị cáo không những đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây hoang mang, bất ổn trong quần chúng nhân dân và làm mất an ninh, trật tự tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng vì lòng tham, muốn hưởng lợi trên sức lao động của người khác mà bị cáo đã thực hiện phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi bị cáo gây ra. Bên cạnh đó, bị cáo là người có nhân thân tốt, không tiền án, không tiền sự, tính đến thời điểm phạm tội bị cáo không bị khởi tố về hành vi phạm tội nào khác, khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Trong quá trình điều tra cơ quan điều tra ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo đã cam kết không đi khỏi nơi cư trú nhưng bị cáo không chấp hành mà tự ý bỏ đi khỏi địa phương gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng dẫn đến phải tạm đình chỉ vụ án và ra quyết định truy nã đối với bị cáo.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả, trả lại toàn bộ số tiền và tài sản chiếm đoạt cho các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Tài sản bị cáo chiếm đoạt không lớn; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, khi phạm tội bị cáo là người dưới 18 tuổi nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau đã xử lý xong cụ thể:
Ngày 03/02/2020, Cơ quan điều tra trao trả 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5 màu xám cho Lê Nhật T.
Ngày 03/02/2020, Cơ quan điều tra trao trả số tiền 2.500.000 đồng cho anh Nguyễn L.
Ngày 05/02/2020 Cơ quan điều tra trao trả cho anh Vũ Văn Tg 01 xe mô tô biển kiểm soát số 71C2-318.62; 01 cái bóp da màu đen, trong bóp có 01 giấy cầm điện thoại di động OPPO F5; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 giấy chứng minh nhân dân (phô tô) tên Vũ Văn Tg; số tiền 2.000 đồng mà bị cáo chiếm đoạt.
Ngày 28/02/2020, Cơ quan điều tra trao trả số tiền 460.000 đồng cho bị cáo (trong đó 260.000 đồng thu giữ của bị cáo và 200.000 đồng do anh T giao nộp) nên không đặt ra xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Hiện Tg, T đã nhận lại tài sản, anh L đã nhận tiền H khắc phục hậu quả, các đương sự không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.
Đối với Phạm Việt B, hiện không có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra chưa làm việc được nên giao Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ có căn cứ xử lý sau.
Đối với anh Nguyễn L, khi mua điện thoại di động hiệu OPPO A5 màu xám do H đem đến bán, thì anh L không biết H trộm cắp mà có nên không đề cặp xử lý.
Đối với anh Trần Văn T, khi H cho số tiền 200.000 đồng, thì anh không biết H trộm điện thoại bán lấy tiền rồi cho anh nên không đề cặp xử lý.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 91; Điều 101; điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên bố bị cáo Nhựt H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nhựt H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ 08/6/2020 được trừ các ngày bị cáo bị giữ và bắt người trong trường hợp khẩn cấp (giữ người ngày 13/01/2020 và bắt người ngày 14/01/2020).
Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Nhựt H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau (chưa nộp).
Bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Người liên quan; - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND tỉnh Cà Mau; - VKSND Tp. Cà Mau; - UBND xã TĐức, huyện ĐDơi, T. Cà Mau; - Cơ quan CSĐT Công an Tp. Cà Mau; - Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Cà Mau; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thúy Dung |