- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Văn K phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật…"
- Tòa quyết gì? tụng hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 133/2019/HS-PT Ngày: 04/06/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Võ Trinh Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng - Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Nhựt Minh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Trung Đến - Kiểm sát viên. Ngày 04 tháng 6 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 104/2019/TLPT-HS ngày 26 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo Trần Văn K. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2019/HS- ST ngày 14 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò. - Bị cáo có kháng cáo: Trần Văn K, sinh năm 1964; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Số 1XX, ấp K, xã T, huyện L, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: X/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn B, sinh năm 19XX (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 19XX (đã chết); Vợ tên Lê Ánh H, sinh năm 19XX; Có 02 con, lớn sinh năm 19XX, nhỏ sinh năm 19XX; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ ngày 08/11/2018; Tạm giam ngày 17/11/2018; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp (có mặt tại phiên tòa). Ngoài ra, trong vụ án còn có 04 người bị hại không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ ngày 07/11/2018, sau khi đã uống rượu, Trần Văn K nhìn thấy anh Tống Hoàng K1 là Trưởng ấp K, xã T, huyện L, đang ngồi
uống rượu tại nhà anh Võ Văn T1 tại ấp K, xã T cùng với anh Trần Hồng A, anh Võ Thành H1 và anh Võ Ngọc M. K nhớ lại chuyện anh K1 vận động gia đình đốn cây bưởi trước nhà để làm đường đal thuộc tuyến Chín Huấn - Tân Khánh Đông, nhưng K không đồng ý, nên tìm cách gây thương tích cho anh K1 để thỏa lòng thù tức. Trần Văn K vào nhà mở ngăn tủ thờ lấy con dao Thái Lan có lưỡi màu trắng, mũi sắc, nhọn dài 16 cm, rộng 3cm, có cán bằng nhựa màu đen dài 12cm, tổng chiều dài 28cm giấu vào bên hông quần đùi bên trái, đi đến nhà anh Võ Văn T1. K đứng bên phải anh K1 hỏi “Mời tôi vụ cây bưởi hay việc gì”, anh K1 trả lời “Tao mời đó”. Liền lúc này, tay phải K nắm vai anh K1, tay trái lấy dao mang theo trong người ra đứng đối diện đâm 01 cái trúng vào ngực trái của anh K1, vừa đâm K vừa nói “Mời nè”. Lúc này, anh A đang ngồi cạnh bên phải của anh K1 xô K ra can ngăn thì K quay sang đâm thẳng trúng 01 cái vào vùng ngực trái của anh A gây thương tích, anh K1 và anh A bỏ chạy. Thấy vậy, anh Võ Thành H1 xông vào can ngăn thì K tiếp tục dùng dao chém ngang 01 cái trúng vào cẳng tay phải của anh H1. Anh Võ Ngọc M đứng sau lưng ôm K kéo lại thềm nhà cách bàn uống rượu 5,65m. Anh T1 chạy đến chụp tay K giật lấy dao nhưng không được liền bị K dùng dao chém ngang trúng 01 cái vào cẳng tay phải của anh T1 gây thương tích. Anh T1 cùng anh M đè K xuống thềm nhà, chị Trần Thúy Hiệp E là vợ anh T1 từ trong nhà chạy ra giật lấy con dao trên tay K mang đi cất giấu. Sau khi sự việc xảy ra, anh T1 và anh K1 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa S, tỉnh Đ điều trị đến ngày 08/11/2018 thì anh T1 ra viện; đến ngày 16/11/2018 thì anh K1 ra viện. Anh A được cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa S, do vết thương nặng nên chuyển đến Bệnh viện Chợ R thành phố H điều trị đến ngày 20/11/2018 thì ra viện. Anh H1 được cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Chợ R và Bệnh viện Q thành phố H đến ngày 16/11/2018 thì ra viện. Còn Trần Văn K đến Công an xã T, huyện L đầu thú và thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 377/TgT-TTPY, ngày 29/11/2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận đối với anh Võ Văn T1: Sẹo vết thương phần mềm số lượng sẹo ít, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Võ Văn T1 do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 02% (Hai phần trăm). Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 378/TgT-TTPY, ngày 29/11/2018 của Trung tâm Pháp y Đ kết luận đối với anh Trần Hồng A: Vết thương vùng ngực trái gây tràn khí, tràn dịch màng phổi trái đã phẩu thuật dẫn lưu màng phổi. Dày dính màng phổi trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Trần Hồng A do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 21% (Hai mươi mốt phần trăm). Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 379/TgT-TTPY, ngày 29/11/2018 của Trung tâm Pháp y Đ kết luận đối với anh Tống Hoàng
K1: Sẹo vết thương phần mềm vùng ngực trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Tống Hoàng K1 do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 01% (Một phần trăm). Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 380/TgT-TTPY, ngày 29/11/2018 của Trung tâm Pháp y Đ kết luận đối với anh Võ Thành H1: Sẹo vết thương phần mềm 1/3 dưới mặt trong cẳng tay phải đứt gân gấp nông, sâu, tổn thương nhánh thần kinh trụ bên phải. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Võ Thành H1 do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 14% (Mười bốn phần trăm). Ngày 12/11/2018, anh Tống Hoàng K1, anh Võ Văn T1, anh Trần Hồng A và anh Võ Thành H1 làm đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo Trần Văn K. Về vật chứng thu giữ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đang tạm giữ: 01 (một) con dao có lưỡi màu trắng, mũi sắc, nhọn, cán dao bằng nhựa màu đen, con dao có chiều dài 28cm, lưỡi dao dài 16cm, cán dao dài 12cm, nơi rộng nhất 03cm, trên cán có chữ KiwiBrand, hàng dưới có chữ Made in ThaiLand. Tại bản án số 03/2019/HS-ST ngày 14/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện L đã quyết định: Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Trần Văn K 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/11/2018. Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định. Ngày 18 tháng 3 năm 2019, bị cáo Trần Văn K có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Trần Văn K bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Xét mức hình phạt 06 năm tù mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và có cung cấp tình tiết mới là trong thời gian bị giam giữ, bị cáo đã phát hiện một phạm nhân giam chung phòng có hành vi tự tử nên truy hô cho cán bộ quản giáo Nhà tạm giữ đến kịp thời ngăn chặn không xảy ra hậu quả đáng tiếc. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do
đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Văn K, sửa phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt, giảm cho bị cáo từ 03 đến 06 tháng tù. Trong phần tranh luận, bị cáo Trần Văn K thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người bị hại, người làm chứng, vật chứng cùng các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Do bị cáo không đồng ý việc anh Tống Hoàng K1 vận động gia đình đốn cây bưởi trước nhà để làm đường đal thuộc tuyến Chín Huấn -Tân Khánh Đông nên giữa bị cáo K và anh K1 phát sinh mâu thuẫn. Khoảng 16 giờ ngày 07/11/2018, sau khi đã uống rượu, K nhìn thấy anh K1 đang ngồi uống rượu tại nhà anh Võ Văn T1 cùng với các anh Trần Hồng A, Võ Thành H1 và Võ Ngọc M. Nhớ lại sự việc mâu thuẫn trên, K đã sử dụng con dao Thái Lan có lưỡi màu trắng, mũi sắc, nhọn dài 16 cm, rộng 3cm, có cán bằng nhựa màu đen dài 12cm, tổng chiều dài 28cm, đâm trúng ngực trái của anh K1 gây thương tích, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01% tại thời điểm giám định. Khi các anh T1, A, H1 can ngăn thì bị cáo K tiếp tục dùng dao đâm, chém vào người anh A gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 21% tại thời điểm giám định; bị cáo còn dùng dao đâm các anh H1, T1 mỗi người một cái; anh H1 bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ là 14% tại thời điểm giám định, còn anh T1 bị tổn thương với tỷ lệ là 02% tại thời điểm giám định. [2] Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo K là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật. Bị cáo là người đã thành niên, có thể chất, tinh thần phát triển bình thường, có khả năng điều khiển hành vi, giao tiếp xã hội, nhận thức được pháp luật, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bị cáo nhận thức được con dao Thái lan có mũi sắc nhọn là hung khí nguy hiểm, nhận thức được hành vi dùng dao đâm, chém vào cơ thể người khác là sẽ gây thương tích, và có thể dẫn đến chết người nhưng bị cáo vẫn dùng con dao đó để đâm anh Tống Hoàng K1 gây thương tích. Khi các anh Trần Hồng A, Võ Thành H1, Võ Văn T1 can ngăn bị cáo không dừng lại mà tiếp tục dùng dao gây thương tích cho họ và hậu quả đã xảy ra làm cho anh Tống Hoàng K1 bị thương tật với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01% , anh Võ Văn T1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%, anh Trần Hồng A với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 21% và anh Võ Thành H1 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 14%, chứng tỏ việc phạm tội của bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Văn K về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự, là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức hình phạt mà án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là không nặng, hoàn toàn phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, đã cân nhắc, xem xét về nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và có cung cấp tình tiết mới là trong thời gian bị giam giữ, bị cáo đã phát hiện một phạm nhân giam chung phòng có hành vi tự tử nên truy hô cho cán bộ quản giáo Nhà tạm giữ đến kịp thời ngăn chặn không xảy ra hậu quả đáng tiếc. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Văn K, sửa phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. 4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo K là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. [5] Do kháng cáo của bị cáo K được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Văn K. Sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Trần Văn K 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/11/2018. Về án phí: Bị cáo Trần Văn K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: - TANDTC – Vụ Giám đốc kiểm tra 1; - Ban Nội chính Tỉnh ủy: - Sở Tư pháp Tỉnh; - VKSND Tỉnh; - Cơ quan THAHS C ông an T ỉnh; Lê Khắc Thịnh - Trại tạm gia m Công an Tỉnh; - TA-VKS -THADS huyện L; - CQCSĐT Công an huy ện L; - Bị cáo; - Phòng h ồ sơ nghi ệp vụ Công an Tỉnh; - Phòng KT NV-THA .TA Tỉnh; - Lưu : VT, HSVA (M ). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) |