vanban.org

Bản án 133/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 14/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt: Nguyễn Đức T 06 ( sáu ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2018. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày 14/5/2018. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức T phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP BẮC NINH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133 /2018/HSST
Ngày 14/5/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc Anh;

Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Như Vũ; bà Cao Thị Cúc

; . - Thư ký phiên toà: Bà Hạp Thị Thu Thủy, Thư ký Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Anh, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Ngày 14/5/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 135 /2018/HSST ngày 30/3/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2018/QĐXXST-HS đối với bị cáo:

Nguyễn Đức T, sinh năm 1982; HKTT: Thôn C, thị trấn M, huyện V, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức T (đã chết); Con bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1949; Vợ: Dương Thị B (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2007

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2018- có mặt tại phiên toà.

Người bị hại:

Chị Lê Thị Vân A, sinh năm 1993 (vắng mặt)

ĐKHKTT: xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Khu L, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, với nội dung vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, bị cáo có hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 09h ngày 17/01/2018 Nguyễn Đức T đi đến cửa hàng bán thuốc của chị Lê Thị Vân A ở Lãm Làng, phường Vân Dương, thành phố B để mua thuốc về điều trị bệnh. Khi đến quầy bán thuốc, T đứng trước quầy bán thuốc nhìn vào bên trong không thấy có người bán hàng. Lúc này T nhìn thấy trên mặt bàn uống nước của quầy thuốc có 01 chiếc điện thoại di động Iphon 6 màu ghi đang cắm sạc T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại. T đi đến chiếc bàn uống nước, cầm chiếc điện thoại di động Iphon 6 rồi rút dây sạc ra, cho chiếc điện thoại vào trong túi quần đang mặc. Sau đó, T đi ra khỏi cửa hàng và đi bộ về khu nhà đang xây dựng mà T đang làm thuê cất giấu chiếc điện thoại xuống nền đất bên cạnh phòng ở của T.

Sau khi nhận được đơn trình báo của người bị hại, cơ quan điều tra triệu tập bị cáo, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội cảu mình và giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc điện thoại di động Iphon 6.

Ngày 18/01/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra Quyết định trưng cầu định giá tài sản nói trên.

T¹i b¶n KÕt luËn ®Þnh gi¸ tµi s¶n sè 522/KL - H§ ngµy 24/01/2018 cña Héi ®ång ®Þnh gi¸ tµi s¶n thµnh phè B¾c Ninh kÕt luËn:

- 01 ®iÖn tho¹i di ®éng nh·n hiÖu Iphone 6 bản 16GB mµu ghi IMEI: 355411077011831 mua tháng 09/2016 gi¸ 5.000.000 ®ång.

Cáo trạng số 48/CTr - VKS ngày 30/3/2018 Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố Nguyễn Đức T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích tính chất, nội dung hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử :

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng Khoản 1, Điều 173, Điều 33; Điểm i, s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt:

Nguyễn Đức T từ 06 đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2018.

Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.

Về vật chứng: Tài sản đã được thu hồi trả cho người bị hại nên không giải quyết.

Bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với Viện kiểm sát mà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với vật chứng thu được. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, của bị cáo, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 9 giờ ngày 17/01/2018 tại cửa hàng bán thuốc của chị Lê Thị Vân A ở khu Lãm Làng, phường Vân Dương, thành phố B bị cáo Nguyễn Đức T đã lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 6 màu ghi trị giá 5.000.000đ của chị Lê Thị Vân A

Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, phạm vào Khoản 1, Điều 173 BLHS mà Viện kiểm sát đã truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội ®· x©m ph¹m ®Õn quyÒn së h÷u tµi s¶n cña c«ng d©n, g©y mÊt trËt tù trÞ an trªn ®Þa bµn thµnh phố, g©y hoang mang cho quÇn chóng nh©n d©n. Do vËy, cÇn ph¶i cã h×nh ph¹t nghiªm kh¾c cách ly bị cáo ra khỏi xã hội nh»m gi¸o dôc bÞ c¸o vµ phßng ngõa chung.

Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bởi vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 6 màu ghi đã được thu hồi trả lại cho người bị hại là chị Lê Thị Vân A, chị Vân A đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS ; Khoản 1, Khoản 3 Điều 329; Điều 136 BLTTHS 2015: Nghị quyết số 326/2016/QH ngày 31/12/2016 của Quốc Hội.

Xử phạt: Nguyễn Đức T 06 ( sáu ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2018. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày 14/5/2018.

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án.

Cỡ chữ