- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Quyết định số 20/2018/QĐ-TTg Quy định việc thực hiện tiêu hủ…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 133/2018/HS-ST Ngày: 30 - 11 - 2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Kim Hoa.
Ông Nguyễn Thanh Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Mẫn - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 136/2018/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2018/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1977, tại Long An; Nơi cư trú: Ấp S, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm mướn; Trình độ văn hóa: 3/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị Đ (đã chết); có vợ tên Võ Thị Thu T, sinh năm 1985 và 03 người con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2007; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ quả tang, tạm giam từ ngày 25/9/2018 đến ngày 03/10/2018 thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người làm chứng: Nguyễn Gia B (vắng mặt); Nguyễn Văn Đ (vắng mặt); Châu Bá D (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 24/9/2018, Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô, loại xe wave, biển số 51R2-9386 đi uống café trên đường đi về nhà thì gặp bà Lê Thị Bé N, sinh năm: 1970, hộ khẩu thường trú: ấp N, xã T, Đ, Long An đang điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chạy cùng chiều phía trước, lúc này bà Bé N nói thuê H vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu từ bến đò Ông Xã thuộc ấp N, xã T, Đ, Long An đi đến Cầu Nhỏ thuộc địa phận huyện M, TP. Hồ Chí Minh với số tiền 100.000 đồng/chuyến, địa điểm nhận thuốc lá điếu nhập lậu tại bến đò ông Xã, H đồng ý. Đến khoảng 2 giờ ngày 25/9/2018, H điều khiển xe mô tô, loại xe Wave, biển số 51R2-9386 của bị cáo H đến điểm hẹn thì gặp một người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) giao cho H 05 bao nilong màu xanh có chứa 2.969 bao thuốc lá điếu nhập lậu loại Jet bên trong. H đưa 05 bao nilong có chứa thuốc lá điếu nhập lậu nói trên lên xe vận chuyển đi được khoảng 200m thì bị lực lượng Công an huyện Đức Hòa bắt quả tang người cùng vật chứng.
Vật chứng thu giữ quả tang gồm có: 2.969 (hai ngàn chín trăm sáu mươi chín) bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, số khung: RLHHC09043Y062195, số máy: không có, biển số: 51R2-9386, 01 (một) điện thoại di động Nokia, model 105, sim số 0988555161.
Quá trình điều tra xác định, điện thoại di động Nokia, model 105, sim số 0988555161 thuộc sở hữu của bị cáo Nguyễn Văn H, không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đức Hòa đã tiến hành trao trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H.
Tại bản cáo trạng số 141/CT-VKSĐH ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo Nguyễn Văn H gây ra; đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); áp dụng Điều 2, Điều 4, Điều 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức hình phạt từ 9 tháng đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
Đồng thời đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Về tang vật chứng:
+ Đối với 2.969 (hai ngàn chín trăm sáu mươi chín) bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet, do nước ngoài sản xuất không có chứng từ, hóa đơn, xuất xứ hàng hóa, không xác định chủ sở hữu. Căn cứ Quyết định số 20/2018/QĐ-TTg ngày 26/04/2018 của Thủ tướng chính phủ, hiện nay tạm dừng việc tiêu hủy thuốc lá ngoại nhập lậu theo Quyết định số 2371/QĐ-TTg ngày 26/12/2014 nên đề nghị tịch thu giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa xử lý theo quy định chung.
+ Tịch thu sung công quỹ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, số khung: RLHHC09043Y062195, số máy: không có, biển số: 51R2-9386 (là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội);
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn H chưa có thu lợi bất chính từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị không xem xét.
Đối với bà Lê Thị Bé N là người thuê bị cáo Nguyễn Văn H vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu ngoài lời khai của bị cáo H ra không có tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh hành vi phạm tội của Lê Thị Bé N. Do đó, không đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội của Lê Thị Bé N về tội danh liên quan nên đề nghị không xem xét.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, vắng mặt những người làm chứng nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
. Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn H trước Tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang vào lúc 02 giờ 10 phút ngày 25 tháng 9 năm 2018, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Thấy rằng, vì muốn có thêm thu nhập cá nhân nên vào khoảng 02 giờ ngày 25 tháng 9 năm 2018, bị cáo Nguyễn Văn H thực hiện hành vi điều khiển xe mô tô biển số 51R2-9386 vận chuyển thuê 2.969 bao (gói) thuốc lá điếu ngoại nhập lậu hiệu Jet cho bà Lê Thị Bé N từ bến đò Ông Xã thuộc ấp N, xã T, Đ, Long An đi đến Cầu Nhỏ thuộc địa phận huyện M, TP. Hồ Chí Minh với số tiền công vận chuyển là 100.000đồng/chuyến. Khi bị cáo H điều khiển xe mô tô biển số số 51R2-9386 chở số thuốc lá ngoại nói trên được 200m thì bị lực lượng Công an huyện Đức Hòa, tỉnh Long An bắt quả tang.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Văn H với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo H gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm, nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội và việc quản lý kinh tế tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của bị cáo gây ra là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi trái pháp luật của bị cáo cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự; do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo trình bày hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo còn là lao động chính trong gia đình, phải nuôi con nhỏ; bị cáo có anh trai là liệt sĩ (ông Nguyễn Văn P). Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên khi áp dụng hình phạt cho bị cáo có xem xét giảm nhẹ một phần.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên việc áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo Nguyễn Văn H là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
. Về tang vật chứng:
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
+ Đối với 01 điện thoại di động Nokia, model 105, sim số 0988555161 thuộc sở hữu của bị cáo Nguyễn Văn H, không sử dụng vào việc phạm tội; Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đức Hòa đã tiến hành trao trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H là phù hợp nên không đề cập xem xét;
+ Đối với 2.969 (hai ngàn chín trăm sáu mươi chín) bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet, do nước ngoài sản xuất không có chứng từ, hóa đơn, xuất xứ hàng hóa, không xác định chủ sở hữu. Căn cứ Quyết định số 20/2018/QĐ-TTg ngày 26/04/2018 của Thủ tướng chính phủ, hiện nay tạm dừng việc tiêu hủy thuốc lá ngoại nhập lậu theo Quyết định số 2371/QĐ-TTg ngày 26/12/2014 nên tịch thu giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa xử lý theo quy định chung;
+ Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, số khung: RLHHC09043Y062195, số máy: không có, biển số: 51R2-9386 thuộc sở hữu của bị cáo, là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ là phù hợp;
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn H chưa có thu lợi bất chính từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên không xem xét.
. Đối với bà Lê Thị Bé N là người thuê bị cáo Nguyễn Văn H vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu ngoài lời khai của bị cáo H ra không có tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh hành vi phạm tội của Lê Thị Bé N. Do đó, không đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội của Lê Thị Bé N về tội danh liên quan nên không đề cập, xem xét.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Căn cứ Điều 2, Điều 4, Điều 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 9 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 1 (một) năm 6 (sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H về Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Văn H có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn H thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; căn cứ Quyết định số 20/2018/QĐ-TTg ngày 26/04/2018 của Thủ tướng chính phủ :
+ Tịch thu 2.969 (hai ngàn chín trăm sáu mươi chín) bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa xử lý theo quy định chung.
+ Tịch thu sung công quỹ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, số khung: RLHHC09043Y062195, số máy: không có, biển số: 51R2-9386.
Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 29-26/11/2018 ngày 26 tháng 11 năm 2018.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc bị cáo Nguyễn Văn H nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
Án này là sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Hòa; - Công an huyện Đức Hòa; - Chi cục Thi hánh án dân sự huyện Đức Hòa; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Thị Kim Thảnh |