- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Q - tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 7 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B Tỉnh Bắc Giang | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 133/2017/HSST Ngày: 27 tháng 9 năm 2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
-----------------
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Chuyền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Tư
2. Bà Nguyễn Thị Vượng
Thƣ ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B: Ông Vũ Thanh Tùng- Kiểm sát viên.
Trong ngày 27/9/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 138/2017/HSST ngày 11/9/2017 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Bùi Văn Q, sinh năm 1993.
- Tên gọi khác: Không.
- Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không.
- Nghề nghiệp: Tự do;
Văn hoá: 12/12.
- Con ông: Bùi Văn Q, sinh năm 1971.
- Con bà: Hoàng Thị V, sinh năm 1970, đã chết.
- Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con cả.
- Vợ: Lường Thị H, sinh năm 1998.
- Con: Có 01 con sinh năm 2017.
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam trong vụ án khác. Có mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY
Bị cáo Bùi Văn Q bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Hồi 10 giờ 40 phút ngày 25/5/2017 tại bờ đê C, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, tổ công tác Công an phường H, thành phố B kiểm soát đối tượng Bùi Văn Q, sinh năm 1993, trú tại: thôn C, xã P, huvện L, tỉnh Bắc Giang. Quá trình kiểm soát đã thu giữ:
+ 05 (năm) gói giấy bạc đều có mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng, bên trong mỗi gói đều đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma tuý Hêrôin, thu tại dưới đất trên sườn bờ đê Chi ly 1, phường Trần Phú do Q thả xuống khi bị kiểm soát;
+ 01 xi lanh loại 3ml/cc, 01 lọ nước cất Novocain 3% và số tiền 215.000 đồng.
Tổ công tác đã niêm phong tại chỗ vật chứng nghi ma tuý vào vào 01 (một) phong bì thư, lập biên bản kiểm soát, sau đó bàn giao tài liệu và vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giải quyết.
Kết luận giám định số 816/KL-PC54 ngày 31/5/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: “Trong 01 (một) phong bì thư đã niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 05 (năm) gói giấy bạc đều có mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng là chất ma túy Heroine, có tổng trọng lượng (khối lượng); 0,192 gam”.
Quá trình điều tra, Bùi Văn Q khai nhận diễn biển hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 25/5/2017, Q đang ở khu vực tượng đài Chiến Thắng, phường P, thành phố B thì gặp một nam thanh niên giới thiệu tên Tuấn nhờ Q mua hộ ma tuý, Q đồng ý cầm 200.000 đồng của Tuấn rồi đi đến khu vực C, phường P, thành phố B mua ma tuý. Đến nơi, Q vào một nhà có cửa sắt, qua lỗ cửa sắt nhà đó Q mua của một người đàn ông không quen biết được 05 gói ma tuý Hêrôin với giá 250.000đồng (trong đó có 200.000 đồng của Tuấn và 50.000 đồng của Q). Sau khi mua được ma tuý, Q cầm ma tuý ở tay phải đi về được khoảng 200m đến 300m thì bị lực lượng Công an kiểm soát. Do sợ hãi Q vứt số ma tuý vừa mua được vào bụi cây sườn bờ đê C, phường P và bỏ chạy nhưng đã bị phát hiện, thu giữ 05 gói ma tuý Q vất ở sườn đê.
Tại Cơ quan điều tra Bùi Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
Tại bản cáo trạng số 141/KSĐT ngày 11/9/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Bùi Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận rõ hành vi của mình như Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Bùi Văn Q và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33, Điều 41- Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 76, Điều 99- Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
Về vật chứng của vụ án:
+ Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư đựng mẫu vật được niêm phong dán kín hoàn lại sau giám định bên trong có chứa ma túy hêrôin.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) xi lanh 3ml/cc và 01 (một) lọ nước cất Novocain 3%.
+ Trả lại bị cáo số tiền 215.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY:
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, tang vật chứng thu được, kết luận giám định, đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 40 phút ngày 25/5/2017 tại khu vực bờ đê C, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, tổ công tác Công an phường H, thành phố B bắt quả tang Bùi Văn Q có hành vi tàng trữ trái phép 0,192 gam ma tuý Hêrôin để sử dụng.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194- Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo theo điều khoản như trên là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất gây nghiện. Gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Ma tuý là hiểm hoạ cho đời sống cộng đồng, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, là nguy cơ lây truyền các căn bệnh xã hội như HIV, AIDS… Pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển… trái phép chất ma tuý. Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, biết rõ tác hại của ma túy nhưng bị cáo vẫn bất chấp để thực hiện hành vi tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do vậy cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự.
Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46- Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Từ những nhận định trên đây, thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên căn cứ khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội thì khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 có quy định về mức hình phạt đối với người có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhẹ hơn mức hình phạt quy định tại khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Do vậy, cần xem xét, áp dụng quy định có lợi cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Người bán ma tuý cho bị cáo, do bị cáo khai không biết là ai nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xử lý. Khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Về vật chứng của vụ án cần xử lý:
+ Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư đựng mẫu vật được niêm phong dán kín hoàn lại sau giám định bên trong có chứa ma túy hêrôin.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) xi lanh 3ml/cc và 01 (một) lọ nước cất Novocain 3%.
+ Trả lại bị cáo số tiền 215.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Do điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế, do vậy cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33, Điều 41- Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội. Điều 76, Điều 99, Điều 231 và Điều 234- Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn Q 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về xử lý vật chứng:
+ Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư đựng mẫu vật được niêm phong dán kín hoàn lại sau giám định bên trong có chứa ma túy hêrôin.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) xi lanh 3ml/cc và 01 (một) lọ nước cất Novocain 3%.
+ Trả lại bị cáo số tiền 215.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9- Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30-Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Bắc giang. - VKSND Tp B. - Công an Tp B. - CCTHADS Tp B. - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ, Văn phòng. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Chuyền |