vanban.org

Bản án 1329/2021/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trịnh Thanh V. Bà Trịnh Thanh V được ly hôn với ông Lâm Nhựt T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 39/2012, Quyển 01/2012 ngày 15/3/2012 của UBND Phường E, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý. Giao 02 (hai) con chung tên Lâm Khả D (nữ), sinh ngày 31/01/2013 và Lâm Minh Q (nữ), sinh ngày 21/10/2015 cho ông Lâm Nhựt T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trịnh Thanh V. Bà Trịnh Thanh V được ly hôn với ông Lâm Nhựt T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1329/2021/HN-ST
Ngày: 20/5/2021
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Hải Y

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Cao Quốc H

2. Bà Nguyễn Thị C

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu P – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Hoàng K - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường, vụ án thụ lý số 527/2020/TLST-HN ngày 10 tháng 12 năm 2020 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1278/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 01 tháng 4 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 1906/2021/QĐST – HNGĐ ngày 22/4/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trịnh Thanh V, sinh năm 1989

Bị đơn: Ông Lâm Nhựt T, sinh năm 1984

Cùng địa chỉ: Số X, đường số Y, KPZ, phường L, thành phố Thủ Đức.

(Bà V xin vắng mặt, ông T vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các văn bản khác, nguyên đơn là bà Trịnh Thanh V trình bày: bà và ông Lâm Nhựt T tự nguyện kết hôn năm 2012. Ông bà có 02 con chung tên Lâm Khả D (nữ) sinh ngày 31/01/2013 và Lâm Minh Q (nữ) sinh ngày 21/10/2015. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do có nhiều bất đồng trong quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, vợ chồng không còn quan tâm tới nhau. Nay nhận thấy hôn nhân không có hạnh phúc, bà yêu cầu được giải quyết ly hôn. Tài sản chung bà không yêu cầu giải quyết. Con chung hiện nay đang ở với ông Thành nên bà đồng ý giao 02 (hai) con chung cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành và bà cấp dưỡng nuôi con mỗi bé 1.500.000 (một triệu, năm trăm ngàn) đồng/tháng cho đến khi các con trưởng thành. Ngoài ra, bà V cũng đề nghị được xét xử vắng mặt.

Ông Lâm Nhựt T đã được tống đạt hợp lệ nhưng không đến tòa theo

giấy triệu tập do đó không có lời khai tại tòa. Tại phiên tòa ông cũng vắng mặt nên không có ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng

xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà V khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Thành nên xác định là quan hệ tranh chấp về việc ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố Thủ Đức nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

Về việc vắng mặt của các đương sự: Bà Trịnh Thanh V là nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Bộ luật Tố tụng Dân sự, quyết định xét xử vắng mặt bà V.

Ông Lâm Nhựt T là bị đơn đã được Tòa án xác minh nơi cư trú, theo kết quả trả lời xác minh của Công an phường L, thành phố Thủ Đức cho biết hiện nay ông T có thực tế cư trú và có đăng ký tạm trú tại địa chỉ Số X, đường số Y, KPZ, phường L, thành phố Thủ Đức. Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tiến hành tống đạt triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa hôm nay nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, quyết định xét xử vắng mặt ông T.

Xét yêu cầu của nguyên đơn như sau:

Bà Trịnh Thanh V và ông Lâm Nhựt T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 39/2012, Quyển 01/2012 ngày 15/3/2012 của UBND Phường E, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh nên xác định hôn nhân của bà V và ông T là hợp pháp. Bà V trình bày, trong thời gian chung sống với ông T do có nhiều bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, không quan tâm đến nhau. Ngày 27/12/2020 bà V đã có đơn khởi kiện yêu cầu đơn phương ly hôn với ông T tại Tòa án nhân dân Quận 2, sau đó do muốn có cơ hội vợ chồng đoàn tụ nên bà V đã xin rút toàn bộ đơn khởi kiện, theo đó Tòa án nhân dân Quận 2 đã ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 41/2020/QĐST – HNGĐ ngày 17/6/2020. Tuy nhiên, sau khi rút đơn để vợ chồng đoàn tụ nhưng bà V và ông T vẫn xảy ra mâu thuẫn không thể khắc phục được. Hiện nay tình cảm vợ chồng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, có nhiều bất đồng trong quan điểm sống. Mặc dù lời khai này của bà V không được đối chất với ông T nhưng trong suốt quá trình Tòa án thụ lý đơn ly hôn của bà V đến nay đã gần 05 tháng nhưng ông T không chấp hành giấy triệu tập của Tòa, cũng không có bất cứ ý kiến nào gửi cho Tòa án về yêu cầu ly hôn của bà V. Điều này vừa chứng tỏ ông T không tôn trọng quy định của pháp luật, không chấp hành yêu cầu triệu tập của Tòa án, vừa thể hiện ý thức không quan tâm, coi trọng hôn nhân của chính bản thân ông. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương nơi bà bà V và ông T chung sống, theo kết quả trả lời xác minh của Ủy ban nhân dân phường L, thành phố Thủ Đức cho biết trong quá trình chung sống tại địa chỉ Số X, đường số Y, KPZ, phường L, thành phố Thủ Đức, bà V và ông T có xảy ra mâu thuẫn hay không thì Ủy ban không ghi nhận và không rõ có mâu thuẫn hay không. Do ông T vắng mặt nên Hội đồng xét xử xem xét ý kiến phía bà V đưa ra, ngoài ra xem xét tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ thể hiện ngày 27/12/2020 bà V đã có đơn khởi kiện yêu cầu đơn phương ly hôn với ông T nhưng sau đó bà V đã rút đơn để vợ chồng đoàn tụ. Tuy nhiên do không thể hàn gắn được nên bà V tiếp tục xin ly hôn với ông T. Từ những nhận định trên cho thấy mối quan hệ hôn nhân của bà bà V và ông T đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau, bà V đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không hàn gắn được do đó yêu cầu ly hôn của bà V là có cơ sở để chấp nhận.

Ghi nhận bà bà V và ông Thành có 02 (hai) con chung tên Lâm Khả D (nữ) sinh ngày 31/01/2013 và Lâm Minh Q (nữ) sinh ngày 21/10/2015. Bà V đồng ý giao con cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Bà V cấp dưỡng nuôi con chung mỗi bé 1.500.000 (một triệu, năm trăm ngàn) đồng/tháng cho đến khi các con trưởng thành.

Bà V được quyền đến thăm, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi của con, người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi.

Tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà V chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật, ông Thành không phải chịu án phí.

Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với tài liệu chứng cứ cũng như quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 243, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trịnh Thanh V. Bà Trịnh Thanh V được ly hôn với ông Lâm Nhựt T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 39/2012, Quyển 01/2012 ngày 15/3/2012 của UBND Phường E, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý.

2. Giao 02 (hai) con chung tên Lâm Khả D (nữ), sinh ngày 31/01/2013 và Lâm Minh Q (nữ), sinh ngày 21/10/2015 cho ông Lâm Nhựt T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Bà V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi bé 1.500.000 (một triệu, năm trăm ngàn) đồng/tháng cho đến khi các con trưởng thành. Thời gian cấp dưỡng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Các bên thi hành án tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

Bà V được quyền đến thăm, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi của con, người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi.

Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi

dưỡng con chưa thành niên.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con

được sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trưc tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở

hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi

con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo

qui định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết trong vụ án này.

4. Về án phí:

Bà Trịnh Thanh V phải chịu án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà V đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số AA/2018/0028284 ngày 10 tháng 12 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Bà V đã nộp đủ án phí. Ông Lâm Nhựt T không phải chịu án phí.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ