vanban.org

Bản án 1326/2018/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/09/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu của bà Trần A về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông

Lương Vĩnh P là người đã chết; Tuyên bố ông Lương Vĩnh P, sinh năm 1962, nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Trần A - Lương Vĩnh P"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu của bà Trần A về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 1326/2018/QĐDS-ST

Ngày: 26-9-2018

V/v yêu cầu tuyên bố một người

là đã chết.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Bá Thịnh.

- Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Long Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Cao

Hoàng Thắng – Kiểm sát viên tham gia phiên họp.

Trong ngày 26 tháng 9 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 07/DSST ngày

03/01/2018 về “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”.

Theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số: 3960/2018/QĐ-ST

ngày 04/9/2018, giữa các đương sự:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trần A - Sinh năm 1964.

Địa chỉ thường trú: số 256/73 đường H, Phường N, Quận M, Thành phố Hồ

Chí Minh.

Người bị yêu cầu: Ông Lương Vĩnh P - Sinh năm 1962;

Nơi cư trú cuối cùng: số 256/73 đường H, Phường N, Quận M, Thành phố

Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trần Vĩnh C - Sinh năm 1959.

Địa chỉ: số 256/73 đường H, Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bà Vòng Mỹ L - Sinh năm 1970.

Địa chỉ: số 418/44 đường T, Phường B, Quận V, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Trẻ Lương Mỹ D - Sinh năm 2005 (Đại diện theo pháp luật của trẻ Lương

Mỹ D là bà Vòng Mỹ L).

Địa chỉ: số 418/44 đường T, Phường B, Quận V, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Ông Vinh G Tran (Trần Vĩnh G) - Sinh năm 1957.

1

Địa chỉ: 11414 Pompano LN Houston TX-77072 – USA.

(Ông Trần Vĩnh C, bà Vòng Mỹ L, trẻ Lương Mỹ D và ông Vinh G Tran

(Trần Vĩnh G) tất cả cùng ủy quyền cho ông Huỳnh Thanh K theo Hợp đồng

ủy quyền số 00034961, ngày 09/12/2017 tại Văn phòng Công chứng Đ.).

NỘI DUNG VỤ VIỆC:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự tuyên bố một người là đã chết đề

ngày 20-12-2017, bản tự khai ngày 28-3-2018, người yêu cầu là bà Trần A và ông Huỳnh Thanh K đại diện ủy quyền của bà Trần A trình bày: Cha bà là ông Lương Sâm V, chết năm 1982, mẹ bà là bà Trần M, chết năm 1986. Cha mẹ bà có 07 người con ruột gồm:

1/ Ông Lương Vĩnh O, sinh năm 1953;

2/ Ông Lương Vĩnh U, sinh năm: 1955;

3/ Ông Trần Vĩnh G (Vinh G Tran), sinh năm 1957;

4/ Ông Trần Vĩnh C, sinh năm: 1959;

5Ông Lương Vĩnh P, sinh năm: 1962;

6/ Bà Trần A, sinh năm: 1964;

7/ Ông Trần Vĩnh N (độc thân và chết năm 1975);

Vào năm 1980 anh của bà là ông Lương Vĩnh P, sinh năm: 1962 độc thân,

không vợ con đã đi vượt biên sang Hoa Kỳ và mất liên lạc đến nay. Địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi biệt tích là số 256/73 đường đường H, Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. Mặc dù gia đình đã tổ chức tìm kiếm và thông báo khắp nơi trên mọi phương tiện thông tin đại chúng nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì.

Nay bà yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên bố anh ruột

bà là ông Lương Vĩnh P là đã chết để thực hiện thủ tục khai tử cho ông P và khai nhận di sản thừa kế và những hồ sơ khác.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Trần Vĩnh C, bà Vòng Mỹ L, trẻ Lương Mỹ D, ông Trần Vĩnh G (Vinh

G Tran) tất cả ủy quyền cho ông Huỳnh Thanh K thống nhất với lời trình bày của bà Trần A và đồng ý yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lương Vĩnh P, sinh năm 1964 là đã chết để thực hiện thủ tục khai tử cho ông P và khai nhận di sản thừa kế và những hồ sơ khác. Tất cả đều xin vắng mặt khi Tòa án giải quyết vụ việc dân sự nêu trên.

Tại phiên họp, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có

ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ việc dân sự, Thẩm phán đã tuân

2

thủ đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Trần A tuyên bố ông

Lương Vĩnh P là người đã chết, ngày chết của ông Lương Vĩnh P là ngày 01 tháng

01 năm 1986.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được

thẩm tra tại phiên họp, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân

dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét thấy:

1/ Về quan hệ giữa các đương sự và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Trong việc dân sự mà bà Trần A yêu cầu Tòa án giải quyết nêu trên thì người

có quyền, lợi ích liên quan là ông Trần Vĩnh G, hiện đang cư trú tại Hợp chúng

quốc Hoa Kỳ nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là Tòa án có thẩm

quyền giải quyết việc dân sự này theo quy định tại khoản 5 Điều 29; khoản 3 Điều

35; điểm b khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Do bà Trần A là em ruột của ông Lương Vĩnh P nên đương sự có quyền yêu

cầu Tòa án tuyên bố ông Lương Vĩnh P là người đã chết theo quy định tại Điều 68,

Điều 71 của Bộ luật dân sự.

Người yêu cầu – bà Trần A do ông Huỳnh Thanh K đại diện theo ủy quyền

và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt căn cứ vào

quy định tại Điều 367, Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định phiên

họp vẫn được tiến hành theo thủ tục chung.

2/ Về yêu cầu của đương sự:

Theo bà Trần A trình bày, Vào năm 1980 anh của bà là ông Lương Vĩnh P,

sinh năm: 1962 độc thân, không vợ con đã đi vượt biên sang Hoa Kỳ và mất liên

lạc đến nay. Địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi biệt tích là số 256/73 đường H,

Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. Mặc dù gia đình đã tổ chức tìm

kiếm và thông báo khắp nơi trên mọi phương tiện thông tin đại chúng nhưng đến

nay vẫn không có tin tức gì. Không rõ đi đâu và biệt tích từ đó đến nay. Bà Trần A

yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lương Vĩnh P là đã chết để thực hiện thủ tục khai tử

cho ông P và khai nhận di sản thừa kế và những hồ sơ khác.

Xét yêu cầu của bà Trần A, theo “Đơn xin xác nhận” ngày 14 tháng 12 năm

2017 của Công an Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung ông

Lương Vĩnh P, sinh năm: 1962 trước đây có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số

256/73 đường H, Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh đến ngày 02/3/1981

đã bị xóa sổ hộ khẩu do trốn đi nước ngoài vào năm 1980.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3

Ông Trần Vĩnh C, bà Vòng Mỹ L, trẻ Lương Mỹ D, ông Trần Vĩnh G (Vinh

G Tran) tất cả ủy quyền cho ông Huỳnh Thanh K thống nhất với lời trình bày của bà Trần A cho rằng năm 1980 ông Lương Vĩnh P đã vượt biên sang Hoa Kỳ từ đó đến nay không có tin tức gì và đồng ý yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lương Vĩnh P là đã chết.

Bà Trần A do ông Huỳnh Thanh K đại diện ủy quyền đã thực hiện việc nhắn

tin tìm kiếm ông Lương Vĩnh P qua các phương tiện thông tin đại chúng như: Báo Lao Động – Cơ quan thường trú tại Thành phố Hồ Chí Minh liên tiếp các ngày 20, 21, 22 tháng 3 năm 2018; Đài tiếng nói Việt Nam - Cơ quan thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh liên tiếp các ngày 30 tháng 4, ngày 01 và ngày 02 tháng 5 năm 2018. Tuy nhiên từ khi nhắn tin tìm kiếm cho đến nay bà Trần A và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn không nhận được tin tức gì của ông Lương Vĩnh P. Như vậy có cơ sở để xác định ông Lương Vĩnh P đã biệt tích hơn 05 năm và không có tin tức xác thực là còn sống.

Xét theo quy định tại khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân

sự thì người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết khi người đó biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống. Do đó xét thấy việc bà Trần A yêu cầu Toà án tuyên bố ông Lương Vĩnh P đã chết là có căn cứ để chấp nhận theo như đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp.

Về việc xác định ngày chết của ông Lương Vĩnh P, xét thấy ông Lương Vĩnh

P biệt tích từ năm 1980 và không có tin tức xác thực là còn sống, căn cứ theo kết quả xác minh đã được xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú cuối cùng của ông P là tại địa chỉ số 256/73 đường đường H, Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. Do không xác định được ngày, tháng cụ thể thời điểm biệt tích của ông Lương Vĩnh P nên ngày chết của ông Lương Vĩnh P được xác định là ngày đầu tiên của tháng đầu tiên của 05 năm kế tiếp, tức là ngày 01 tháng 01 năm 1986 theo quy định tại khoản 1 Điều 68 và khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự.

Bà Trần A phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên,

Áp dụng:

- Điều 4, khoản 4 Điều 27; Điều 37; khoản 2 Điều 67; Điều 149; Điều 238,

Điều 361; Điều 362; Điều 367; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 391; Điều 392; Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71, Điều 72 Bộ luật dân

sự 2015;

- Điều 24 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính

Phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch;

4

- Pháp lệnh về án phí, lệ phí Toà án; Điều 48 Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định

về mức thu, miễn, giảm, thu,nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Chấp nhận yêu cầu của bà Trần A về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông

Lương Vĩnh P là người đã chết;

Tuyên bố ông Lương Vĩnh P, sinh năm 1962, nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ

số 256/73 đường H, Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.

Ngày chết của ông Lương Vĩnh P được xác định là ngày 01/01/1986.

Quan hệ tài sản của ông Lương Vĩnh P được giải quyết như đối với người đã

chết, tài sản của ông Lương Vĩnh P được giải quyết theo quy định của pháp luật về

thừa kế.

Bà Trần A phải thực hiện đăng ký khai tử cho ông Lương Vĩnh P theo quy

định của pháp luật về hộ tịch.

2/ Lệ phí dân sự sơ thẩm bà Trần A phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng,

được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo

“Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án” số AA/2017/0048517 ngày 02/01/2018

của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, bà Trần A đã nộp đủ lệ phí

dân sự sơ thẩm.

3/ Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được

nhận được quyết định. Viện Kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp

luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ