- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Quách Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 132/2025/HS-ST Ngày: 06/5/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ – TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Quyên
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Chung Kim Sang
Bà Đoàn Thị Liễu
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Mùi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Thiệt - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2025. Tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 96/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2025/QĐXXST-HS ngày 28/3/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 28/2025/HSST-QĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Quách Văn H, sinh ngày 01/01/1978; Tên gọi khác: L; Nơi thường trú: Tổ G, ấp R, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Không có chỗ ở rõ ràng. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: lớp 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Quách Văn H1, sinh năm 1952 và bà Huỳnh Thị Kim T, sinh năm 1952; Chị, em ruột có 5 người lớn sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1988. Vợ tên Trần Ngọc H2, sinh năm 1978 (đã ly hôn), con tên Quách Văn V, sinh năm 1998.
Tiền án: Có 02 tiền án: Ngày 24/01/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 13/02/2018 (chưa xóa án tích). Ngày 23/5/2018 bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 09 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 25/4/2024 (chưa xóa án tích). Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 27/02/2002 bị Toà án nhân dân tỉnh Cần Thơ (nay là thành phố Cần Thơ) xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 28/9/2004 chấp hành xong, đã xoá án tích.
- Ngày 29/9/2008 bị Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong, đã xoá án tích.
- Ngày 12/3/2010 bị Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong, đã xoá án tích.
- Ngày 28/5/2013 bị Ủy ban nhân dân huyện A, tỉnh Kiên Giang ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh về hành vi sử dụng trải phép chất ma túy, thời hạn 24 tháng, ngày 25/11/2015 chấp hành xong, đã xoá tiền sự.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2024 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Bị hại:
Chị Trần Thị Mỹ X, sinh năm 1985; Địa chỉ: Số B L, khu phố B, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người làm chứng: Anh Phan Anh Vũ Quốc L, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số A L, khu phố B, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 10 phút ngày 25/12/2024, H2 đi bộ rào các tuyến đường trên địa bàn thành phố R tìm tài sản để lấy trộm. Khi H2 đi đến căn nhà không số trong hẻm T, khu phố B, phường A của chị Trần Thị Mỹ X là chủ sở hữu thì H2 nhìn thấy cửa nhà mở, chị X thì đang nằm ngủ trên võng trong nhà, kế bên có để 01 điện thoại di động hiệu Samsung A25 màu vàng xanh nên H2 đã lén lút tiếp cận và lấy trộm điện thoại trên của chị X rồi H2 bỏ chạy. Lúc này chị X phát hiện nên tri hô thì anh Phan Anh Vũ Quốc L đuổi theo bắt giữ được H2 và giao nhận cho Công an phường A người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang. Tại Cơ quan Công an thì H2 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Trong quá trình điều tra và truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cao có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm do có tiền án chưa xoá án tích lại tiếp tục phạm tội.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 163/KL-HĐĐGTS, ngày 26/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố R kết luận:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung GALAXY A25 5G, màu vàng gold, số seri R5CWCOKIDER, Imei 1: 350616250579041/1, Imei 1: 350960280579047/01, RAM 06GB, dung lượng bộ nhớ trong 128GB, sản xuất năm 2023, đã qua sử dụng. tại thời điểm định giá ngày 25/12/2024 có giá trị là 2.000.000 đồng/cái.
- 01 (một) ốp lưng bằng nhựa màu vàng nhạt, không có nhãn hiệu, đã qua sửdụng, tại thời điểm định giá ngày 25/12/2024 không xác định được giá trị do không đủ thông tin
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá tài sản.
Về việc thu giữ và xử lý tang vật vụ án gồm: 01 điện thoại di động hiệu S GALAXY A25 5G, màu vàng gold, số seri RSCWCOKIDER, Imei 1: 350616250579041/1, Imei 1: 350960280579047/01, RAM 06GB, dung lượng bộ nhớ trong 128GB, sản xuất năm 2023, đã qua sử dụng. 01 (một) ốp lưng bằng nhựa màu vàng nhạt, không có nhân hiệu, đã qua sử dụng. Cơ quan điều tra đã trao trả cho bị hại Trần Thị Mỹ X theo quyết định xử lý vật chứng số 4606 ngày 30/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R.
Tại Cáo trạng của Viện kiểm sát số: 130/CT-VKSRG ngày 20/3/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá đã truy tố bị cáo Quách Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Quách Văn H mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Quách Văn H không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Tài sản bị trộm cắp đã giao trả cho người bị hại chị Trần Thị Mỹ X theo Quyết định xử lý vật chứng số 4606/QĐ-CSĐT ngày 30/12/2024 nên đề nghị miễn xét.
- Về trách nhiệm dân sự:
Người bị hại là chị Trần Thị Mỹ X đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm nên đề nghị không xem xét
- Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo Quách Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình là đúng như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như nội dung bản cáo trạng mà vị đại diện Viện kiểm sát đã công bố tại Tòa.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố R, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa: Bị hại chị Trần Thị Mỹ X vắng mặt và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị hại chị Trần Thị Mỹ X.
Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 12 giờ 10 phút ngày 25/12/2024, tại hẻm T, khu phố B, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang, Quách Văn H đã lợi dụng sự sơ hở của chị Trần Thị Mỹ X lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Samsung GALAXY A25 5G của chị Trần Thị Mỹ X, trị giá 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) nhằm mục đích tiêu xài. Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và cũng phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, hành vi của bị cáo có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 130/CT-VKSRG ngày 20/3/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp, quyền quản lý tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật, sẽ bị pháp luật trừng trị một cách nghiêm khắc nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội, biết quý trọng sức lao động của bản thân và của người khác.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Quách Văn H là đối tượng có nhân thân xấu. Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, tài sản bị trộm đã được trả lại cho bị hại và bị hại không yêu cầu gì thêm, bị cáo H có cha là người có công với cách mạng nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu chứng cứ và lời khai thì bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5, Điều 173 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là chị Trần Thị Mỹ X đã nhận lại tài sản, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố R đã trả lại 01 điện thoại di động hiệu Samsung GALAXY A25 5G, màu vàng gold, sốseri RSCWCOKIDER, Imei 1: 350616250579041/1, Imei 1: 350960280579047/01, RAM 06GB, dung lượng bộ nhớ trong 128GB, sản xuất năm 2023, đã qua sử dụng. 01 (một) ốp lưng bằng nhựa màu vàng nhạt, không có nhân hiệu, đã qua sử dụng cho bị hại Trần Thị Mỹ X theo quyết định xử lý vật chứng số 4606 ngày 30/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không xét.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét lời luận tội của vị đại diện Viện Kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Quách Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 51 và điểm s khoản 1, 2 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
3. Xử phạt bị cáo Quách Văn H 01 (một) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/12/2024.
4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
5. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 46 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tài sản bị trộm cắp gồm: 01 điện thoại di động hiệu S GALAXY A25 5G, màu vàng gold, sốseri RSCWCOKIDER, Imei 1: 350616250579041/1, Imei 1: 350960280579047/01, RAM 06GB, dung lượng bộ nhớ trong 128GB, sản xuất năm 2023, đã qua sử dụng. 01 (một) ốp lưng bằng nhựa màu vàng nhạt, không có nhân hiệu, đã qua sử dụng đã trả lại cho bị hại chị Trần Thị Mỹ X theo quyết định xử lý vật chứng số 4606 ngày 30/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R.
6. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Quách Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
8. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi Nhận:
| - TAND Tỉnh KG; - VKS TP Rạch Giá; - Chi cục THADS TP Rạch Giá; - Công an TP Rạch Giá; - Sở Tư Pháp; - Phòng hồ sơ CA tỉnh; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Phan Thị Quyên |