- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lữ Thị H và Lò Văn Y ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lữ Thị H được ly hôn anh Lò Văn Y.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 132/2024/HNGĐ - ST Ngày 30/08/2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Quán Vi Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vi Văn Hậu.
2. Bà Nguyễn Lê Vinh Hương.
Thư ký phiên toà: Ông Trần Anh Quân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 78/2024/TLST – HNGĐ ngày 07 tháng 06 năm 2024 về “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 15 tháng 08 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lữ Thị H, sinh năm 1991. Địa chỉ: Xóm Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
1. Bị đơn: Anh Lò Văn Y, sinh năm 1987. Địa chỉ: Xóm Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn nộp ngày 29/05/2024 và tại Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lữ Thị H trình bày:
Chị và anh Lò Văn Y làm thủ tục đăng ký kết hôn ngày 10/5/2010 tại UBND xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Sau một thời gian chung sống hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Anh Lò Văn Y thường xuyên uống rượu, quát mắng, đánh đập chị và con khiến cho gia đình không hạnh phúc. Tình cảm vợ chồng rạn nứt sâu sắc. Trong cuộc sống hàng ngày, anh Y cũng không chăm sóc gia đình, không có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc con cái. Mọi trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc con, chăm lo cho gia đình do chị gánh vác. Do nhận thấy cuộc sống không hạnh phúc nên chị H làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An giải quyết ly hôn với anh Lò Văn Y.
Về con chung: Chị Lữ Thị H và anh Lò Văn Y có một con chung là Lò Quang L, sinh ngày 28/7/2010. Nếu ly hôn, chị H có nguyện vọng giao cháu L cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi trưởng thành. Chị Lữ Thị H yêu cầu anh Lò Văn Y cấp dưỡng nuôi con chung mỗi t háng 4.000.000đ (Bốn triệu đồng). Nhưng tại đơn trình bày ý kiến ngày 26/8/2024, chị H rút yêu cầu về cấp dưỡng. Chị Lữ Thị H không yêu cầu anh Lò Văn Y cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lữ Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại Bản tự khai, Biên bản hoà giải anh Lò Văn Y trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Thời gian đăng ký kết hôn và nơi đăng ký kết hôn đúng như chị Lữ Thị H trình bày. Mặc dù trong thời gian chung sống, vợ chồng có lúc xảy ra xích mích, cãi cọ nhưng quan hệ hôn nhân chưa đến mức trầm trọng nên anh không đồng ý ly hôn mà vẫn muốn tiếp tục chung sống với chị H.
Về con chung: Chị Lữ Thị H và anh Lò Văn Y có một con chung là Lò Quang L, sinh ngày 28/7/2010. Nếu phải ly hôn, anh đồng ý để chị H nuôi dưỡng con chung và anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh Lò Văn Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử; quá trình thu thập chứng cứ, hỏi và tranh luận tại phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Đối với nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Về việc giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 51; 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 BLTTDS.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lữ Thị H. Cho chị Lữ Thị H và anh Lò Văn Y ly hôn.
Về con chung: Đề nghị HĐXX giao cháu Lò Quang L, sinh ngày 28/7/2010 cho chị Lữ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng từ tháng 9/2024 đến khi con chung đủ 18 tuổi trưởng thành, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Lò Văn Y.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lữ Thị H, anh Lò Văn Y không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không phải xem xét giải quyết thêm.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc chị Lữ Thị H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Lữ Thị H và anh Lò Văn Y đăng ký kết hôn ngày 10/5/2010 tại UBND xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Do đó, vụ án này được xác định là “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Lò Văn Y hiện đang có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Lữ Thị H và bị đơn Lò Văn Y có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lữ Thị H và anh Lò Văn Y đăng ký kết hôn ngày 10/5/2010 tại UBND xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân của hai bên đảm bảo về điều kiện kết hôn và đúng nghi thức theo quy định pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị sống chung không hạnh phúc, cuộc sống xảy ra nhiều mâu thuẫn. Quá trình giải quyết vụ án chị Lữ Thị H xin được ly hôn với anh Lò Văn Y. Anh Lò Văn Y không đồng ý ly hôn. Xét thấy cuộc sống hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị Lữ Thị H và anh Lò Văn Y ly hôn.
Về con chung: Căn cứ vào nguyện vọng của đương sự, xét hoàn cảnh, điều kiện để nuôi con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ nên cần giao con chung là Lò Quang L, sinh ngày 28/7/2010 cho chị Lữ Thị H nuôi dưỡng, kể từ tháng 9 năm 2024 trở đi cho đến khi con chung đủ 18 tuổi (trưởng thành) và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Lò Văn Y là hợp lý.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lữ Thị H, anh Lò Văn Y không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
[ 3 ] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, chị Lữ Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; Điều 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBT VQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lữ Thị H được ly hôn anh Lò Văn Y.
Về con chung: Buộc anh Lò Văn Y giao cháu Lò Quang L, sinh ngày 28/7/2010 cho chị Lữ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 09 năm 2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi (trưởng thành). Tạm hoãn việc cấp dưỡng đối với anh Lò Văn Y.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí: Chị Lữ Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ ( Ba trăm nghìn) đồng. Được khấu trừ do đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai số: 0006171 ngày 07 tháng 06 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An. Chị Lữ Thị H đã nộp đủ tiền án phí.
Quyền kháng cáo: Vụ án xét xử sơ thẩm công khai vắng mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai đối với nguyên đơn, bị đơn.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Quỳ Hợp; - Chi cục THADS huyện Quỳ Hợp; - UBND xã Đồng Hợp, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An; - Các đương sự; - Lưu HS vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Quán Vi Tuấn |