vanban.org

Bản án 132/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị H được ly hôn ông Đậu Văn Ph.

Về con chung: Giao cho bà Trương Thị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên là Đậu Văn Ph1 - sinh ngày 15/10/201x và Đậu Văn Kh - sinh ngày 19/4/2021ữ cho đến khi đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho ông Đậu Văn Ph. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa bà Trương Thị H và ông Đậu Văn Ph"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị H được ly hôn ông Đậu Văn Ph.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 132/2024/HNGĐ-ST
Ngày 31 – 01 – 2024
“V/v ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Tất Quang.

- Ông Nguyễn Đình Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dung – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hợi – Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 277/2022/HNGĐ-ST ngày 19 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 121/2023QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trương Thị H. Sinh năm 199x. Hộ khẩu thường trú xóm 01, xã ĐS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ hiện nay xóm YL, xã NL, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Đậu Văn Ph. Sinh năm 199x. Địa chỉ xóm 01, xã ĐS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn là bà Trương Thị H trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị H và ông Đậu Văn Ph làm thủ tục đăng ký kết hôn ngày 17/7/201x tại Ủy ban nhân dân xã ĐS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn giữa bà Trương Thị H và ông Đậu Văn Ph là trên tinh thần tự nguyện của hai bên, không bị ai ép buộc. Vợ chồng sống hạnh phúc từ khi kết hôn đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Từ năm 2023 đến nay vợ chồng sống ly thân. Đến nay, bà Trương Thị H thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà Trương Thị H được ly hôn ông Đậu Văn Ph.

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà Trương Thị H và ông Đậu Văn Ph có 02 con chung là Đậu Văn Ph1 – sinh ngày 15/10/201x, Đậu Văn Kh – sinh ngày 19/4/202x. Bà Trương Thị H đề nghị Tòa án giao 02 (Hai) con chung cho cho bà Trương Thị H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và bà Trương Thị H không yêu cầu ông Đậu Văn Ph phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trương Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Đậu Văn Ph không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện bà Trương Thị H; Tòa án không thu thập được ý kiến trình bày của ông Đậu Văn Ph.

Tòa án đã tiến hành xác minh thông qua bà Trần Thị X (Là mẹ đẻ của ông Đậu Văn Ph) tại Biên bản xác minh ngày 12/12/2023 thì bà Trần Thị X cho biết: “Bà Trần Thị X là mẹ đẻ của ông Đậu Văn Ph (Sinh năm 199x. Địa chỉ xóm 01, xã ĐS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An). Bà Trần Thị X là người trực tiếp nhận các văn bản do Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tống đạt qua bưu điện cho anh Đậu Văn Ph gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án số 257/TB-TLVA ngày 31/10/2023 và Thông báo số 473/TB-TA ngày 31/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương. Sau khi nhận được các văn bản này của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương thì bà Trần Thị X đã gọi điện thoại thông báo cho anh Đậu Văn Ph biết về việc chị Trương Thị H đã làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Trương Thị H được ly hôn anh Đậu Văn Ph nhưng anh Đậu Văn Ph không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị H. Anh Đậu Văn Ph và chị Trương Thị H kết hôn năm 2014 và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Trong thời kỳ hôn nhân, anh Đậu Văn Ph và chị Trương Thị H có 02 con chung là Đậu Văn Ph1 và Đậu Văn Kh. Ông Đặng Văn Phúc hiện nay đang đi làm ở miền Nam, còn địa chỉ cụ thể thì bà Trần Thị X không biết.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An sau khi nhận xét, đánh giá việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự và phân tích nội dung vụ án; đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trương Thị H được ly hôn ông Đậu Văn Ph.

- Về con chung: Giao con chung chưa thành niên là Đậu Văn Ph1, sinh ngày 15/10/201x và Đậu Văn Kh, sinh ngày 19/4/202x cho bà Trương Thị H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho ông Đậu Văn Ph.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trương Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

- Về án phí: Buộc bà Trương Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là ông Đậu Văn Ph có địa chỉ cư trú cuối cùng tại xóm 1, xã ĐS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Bà Trương Thị H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, nuôi con với ông Đậu Văn Ph, do đó đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con chung. Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Vụ án ly hôn giữa bà Trương Thị H và ông Đậu Văn Ph, Tòa án phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên toà, các đương sự đều vắng mặt nhưng nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Hội đồng xét xử thấy rằng quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã có ý kiến trình bày đầy đủ; bị đơn đã được Tòa án gửi các văn bản tố tụng và đã biết nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn không có ý kiến trình bày là tự từ bỏ quyền lợi của bị đơn. Do đó việc vắng mặt của các đương sự tại phiên toà không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân xã ĐS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An cấp ngày 17/7/2014 và căn cứ vào ý kiến trình bày của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng bà Trương Thị H, ông Đậu Văn Ph kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc và làm thủ tục đăng ký kết hôn ngày 17/7/201x tại Uỷ ban nhân dân xã ĐS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An, do đó hôn nhân giữa bà Trương Thị H và ông Đậu Văn Ph là hợp pháp.

Hội đồng xét xử thấy bà Trương Thị H, ông Đậu Văn Ph sống ly thân đã lâu và cả hai người đều không chăm lo cho nhau, không người nào có biện pháp để giữ gìn hạnh phúc gia đình, điều đó cho thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị H và giải quyết cho bà Trương Thị H được ly hôn ông Đậu Văn Ph.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà Trương Thị H và ông Đậu Văn Ph có 02 (Hai) con chung là Đậu Văn Ph1, sinh ngày 15/10/2014 xĐậu Văn Kh, sinh ngày 19/4/202x. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Trương Thị H đề nghị Tòa án giao con chung cho bà Trương Thị H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện nay các con chung đang sinh sống ổn định với bà Trương Thị H. Trong khi hiện nay ông Đậu Văn Ph đang đi làm ở miền Nam nên việc giao con chung cho ông Đậu Văn Ph chăm sóc nuôi dưỡng là không đảm bảo quyền và lợi ích của con chung. Do đó Hội đồng xét xử thấy rằng để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển lâu dài của các con nên cần giao cho bà Trương Thị H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung chưa thành niên là Đậu Văn Ph1, Đậu Văn Kh cho đến khi đủ 18 tuổi.

Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Trương Thị H không yêu cầu ông Đậu Văn Ph phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, do đó Hội đồng xét xử tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho ông Đậu Văn Ph.

Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không yêu cầu Toà án giải quyết việc chia tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân khi ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Trương Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị H được ly hôn ông Đậu Văn Ph.

2. Về con chung: Giao cho bà Trương Thị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên là Đậu Văn Ph1 - sinh ngày 15/10/201x và Đậu Văn Kh - sinh ngày 19/4/2021ữ cho đến khi đủ 18 tuổi.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho ông Đậu Văn Ph.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

4. Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về án phí: Bà Trương Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do bà Trương Thị H đã nạp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009259 ngày 30/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ