- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyên đơn Nguyễn Khắc Q và bị đơn Trần Thị N, Dương Văn H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Khắc Q đối với ông Dương Văn H và bà Trần Thị N về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 132/2024/DS-ST Ngày: 21 - 8 - 2024 V/v Tranh chấp hợp đồng góp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Lài;
2. Ông Nguyễn Văn Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiệp là thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Khổng Thị Thu - Kiểm sát viên;
Trong ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 271/2024/TLST-DS, ngày 31 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 154/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Khắc Q, sinh năm 1985; Địa chỉ cư trú: ấp G, xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.
Bị đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1968 và ông Dương Văn H, sinh năm 1965; Cùng địa chỉ cư trú: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Bà N, ông H vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo đơn khởi kiện ngày 24/5/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn ông Nguyễn Khắc Q trình ày: Ông có tham gia chơi dây hụi 5.000.000 đồng/tháng, khui hụi ngày 20/11/2022 âm lịch, gồm 30 phần do bà Trần Thị N làm chủ thảo hụi. Ông tham gia 01 phần và đóng hụi sống đến tháng 9/2023 âm lịch thì ngưng đóng, trung bình giá kêu hụi hàng tháng dao động khoảng 1.200.000 đồng đến 1.500.000 đồng. Tháng 10/2023 âm lịch bà N thông báo vỡ hụi, trong khi đó ông vẫn chưa được hốt hụi. Tính toán tiền hụi sống ông đã đóng cho bà N dây hụi này là: 11 kỳ x 3.800.000 đồng/kỳ = 41.800.000 đồng.
Đến ngày 25/12/2023 âm lịch bà N chỉ trả cho ông số tiền 7.000.000 đồng, ông không nhận số tiền 10.000.000 đồng vào ngày 03/11/2023 âm lịch như bà N trình bày. Tính đến nay bà N còn nợ ông số tiền hụi vốn là 41.800.000 đồng - 7.000.000 đồng = 34.800.000 đồng.
Tại đơn khởi kiện ngày 24/5/2024, ông yêu cầu ông H, bà N có trách nhiệm trả cho ông số tiền hụi 53.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà ông thay đổi yêu cầu khởi kiện buộc ông H, bà N có nghĩa vụ liên đới trả cho ông số tiền hụi vốn 34.800.000 đồng, không tính lãi hụi. Vì ông H có biết việc bà N làm chủ hụi và tham gia phụ giúp bà N làm hụi.
Quá trình giải quyết vụ án, ị đơn bà Trần Thị N trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của ông Q về dây hụi 5.000.000 đồng/tháng, khui hụi ngày 20/11/2022 âm lịch, ông Q tham gia 01 phần. Dây hụi này ông Q đã đóng hụi vốn cho bà số tiền 41.800.000 đồng.
Sau đó ngày 03/11/2023 âm lịch bà trả cho ông Q số tiền 10.000.000 đồng; đến ngày 25/12/2023 âm lịch trả số tiền 7.000.000 đồng, khi trả tiền không lập biên bản giao nhận. Bà có gút nợ với ông Q số tiền hụi còn lại là 34.800.000 đồng và đồng ý trả số tiền này, không đồng ý để ông H liên đới trả nợ vì ông H không liên quan đến việc bà làm hụi. Ông H đã bị bệnh tim khoảng 10 năm nay, thu nhập của gia đình chủ yếu từ thu nhập làm hụi, ngoài ra không có khoản thu nhập khác.
Theo diễn biến cuối cùng tại phiên hoà giải ngày 24/7/2024, bà thay đổi ý kiến chỉ đồng ý trả cho ông Q số tiền hụi vốn là 30.000.000 đồng do ông Q có những lời lẽ không đúng về ông Dương Văn H.
Tại bản tường trình ngày 26/7/2024 và quá trình giải quyết vụ án, ị đơn ông Dương Văn H trình bày: Ông H là chồng của bà N chung sống với bà N cách đây khoảng 40 năm. Quá trình chung sống bà N mang nhiều căn bệnh, không đảm bảo sức khoẻ nên có làm chủ hụi, ông đã nhiều lần ngăn cản làm hụi nhưng bà N không nghe. Từ năm 2019 cho đến nay sức khoẻ của ông yếu kém, phải điều trị trong thời gian dài. Ông và bà N cũng đã phải bán 02 phần đất để trả tiền nợ hụi cho các hụi viên. Nay ông xác định không có liên quan đến việc bà N làm hụi nên không đồng ý cùng bà N liên đới trả nợ cho ông Q.
Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh phát iểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 471 của Bộ luật Dân sự; Điều 27, 37 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Khắc Q, buộc bà Trần Thị N và ông Dương Văn H có nghĩa vụ liên đới trả số tiền hụi là 34.800.000 (ba mươi bốn triệu, tám trăm nghìn) đồng cho ông Q. Ghi nhận ông Q không tính lãi.
Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên Tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của đương sự trong vụ án, xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 471 của Bộ luật Dân sự. Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh là Toà án nơi bị đơn cư trú có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên toà, bị đơn ông Dương Văn H, bà Trần Thị N vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H, bà N theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Tại đơn khởi kiện ngày 24/5/2024, ông Q yêu cầu vợ chồng ông H, bà N có trách nhiệm trả số tiền nợ hụi 53.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà ông Q thay đổi yêu cầu khởi kiện buộc ông H, bà N có nghĩa vụ liên đới trả số tiền nợ hụi 34.800.000 đồng, không tính lãi suất.
Về xác định số tiền hụi: Căn cứ vào giấy hụi do các đương sự cung cấp và bà L, bà N trình bày thống nhất ông Q có tham gia chơi dây hụi 5.000.000 đồng/tháng, khui vào ngày 20/11/2022 âm lịch, mỗi tháng khui 01 lần. Dây hụi này gồm 30 phần do bà N làm chủ thảo hụi, ông Q tham gia 01 phần. Tháng 10/2023 âm lịch bà N thông báo hụi vỡ trong khi đó ông Q vẫn chưa được hốt hụi. Tính toán số tiền hụi vốn ông Q đã đóng 11 kỳ hụi cho bà N là 41.800.000.000 đồng.
Sau khi chốt nợ hụi, ông Q chỉ thừa nhận số tiền 7.000.000 đồng của bà N vào ngày 25/12/2023 âm lịch, không nhận số tiền 10.000.000 đồng vào ngày 03/11/2023 âm lịch như bà N trình bày. Bà N không đưa ra được chứng cứ chứng minh về việc bà đã trả số tiền 10.000.000 đồng vào ngày 03/11/2023 âm lịch cho ông Q; mặt khác theo nội dung biên bản hoà giải ngày 24-7-2024 bà đồng ý trả cho ông Q số tiền hụi còn nợ là 34.800.000 đồng sau đó bà thay đổi ý kiến chỉ đồng ý trả số tiền hụi 30.000.000 đồng với lý do ông Q có lời lẽ không đúng về ông H. Do vậy Hội đồng xét xử có căn cứ xác định bà N còn nợ ông Q số tiền hụi vốn là 34.800.000 đồng.
Về nghĩa vụ liên đới trả tiền nợ hụi: Xét thấy bà N và ông H chung sống từ khoảng năm 1984-1985 đến nay nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Bà N mở hụi, làm chủ thảo hụi diễn ra trong thời gian dài và trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng ông H, bà N. Bà N trình bày bà mang nhiều căn bệnh, không có nghề nghiệp chỉ làm chủ hụi hưởng hoa hồng để có thu nhập chăm lo cho gia đình. Ông H trình bày từ năm 2019 ông bị bệnh tim phải điều trị trong thời gian dài, ông có biết bà N làm chủ thảo hụi và có ngăn cản bà N nhưng ông không có chứng cứ chứng minh. Do vậy cần buộc ông H, bà N phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ hụi cho ông Q là phù hợp theo quy định tại Điều 27, 37 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Q, buộc vợ chồng ông H, bà N có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Q số tiền nợ hụi là 34.800.000 đồng. Ghi nhận ông Q không yêu cầu tính lãi.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của ông Q được chấp nhận nên ông Dương Văn H, bà Trần Thị N có nghĩa vụ liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật là: 34.800.000 đồng x 5% = 1.740.000 đồng.
Ông Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí khởi kiện đã nộp.
Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 147, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471 của Bộ luật Dân sự; Điều 27, 37 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Khắc Q đối với ông Dương Văn H và bà Trần Thị N về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
Buộc ông Dương Văn H và bà Trần Thị N có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Khắc Q số tiền nợ hụi là 34.800.000 (ba mươi bốn triệu, tám trăm nghìn) đồng. Ghi nhận ông Q không yêu cầu tính lãi.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Dương Văn H, bà Trần Thị N có nghĩa vụ liên đới chịu số tiền 1.740.000 (một triệu, bảy trăm bốn mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Nguyễn Khắc Q không phải chịu án phí sơ thẩm dân sự. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh hoàn trả cho ông Nguyễn Khắc Q số tiền tạm ứng án phí khởi kiện ông đã nộp 1.325.000 (một triệu, ba trăm hai mươi lăm nghìn) đồng tại biên lai thu số 0009332 ngày 31/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-TAND tỉnh TN; - VKSND H.Châu Thành; - CCTHADS H.Châu Thành; - Đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Bùi Thị Liên |