vanban.org

Bản án 132/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Đống Đa, TP. Hà Nội Tuyên án 06/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn Nhƣ T, Trần Duy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1- Về mức hình phạt: 1- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tiến Hưng- Trộm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Nhƣ T, Trần Duy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN ĐỐNG ĐA
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 132/2023/HSST
Ngày 06/6/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thúy;

Các hội thẩm nhân dân:

1- Bà Đinh Thị Thu Huyền;

2- Bà Lê Thanh Ngọc.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga- Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Như Quỳnh, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm Phòng xét xử trực tuyến-trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, Hà Nội và tại điểm cầu thành phần Phòng xét xử trực tuyến- Trại tạm giam số 1, Công an thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội T hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 122/TLST-HS ngày 19/5/2023 đối với các bị cáo:

1- Họ tên: Nguyễn Nhƣ T, sinh năm 1978; Giới tính: Nam; ĐKNKTT và ở: Nhà E3, tập thể 104 N (số mới: 04/1/53 phố T), phường Phúc Xá, quận Ba Đình, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Vĩnh Năm, sinh năm 1938; Con bà: Nguyễn Thị Nhạ (đã chết); Anh, chị, em ruột: Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ 5; Vợ: Lê Thị Thu, sinh năm 1982; Con: Có 01 con sinh năm 2011.

Nhân thân: - Ngày 02/12/2009, Công an quận Đống Đa lập danh chỉ bản về hành vi Trộm cắp tài sản.

- Bản án số 248 ngày 17/6/2003, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt 12 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, hình phạt chung là 27 tháng tù.

- Bản án số 25 ngày 06/3/2006, Tòa án nhân dân thị xã Hà Đông xử phạt 18 tháng tù về tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản.

- Bản án số 191 ngày 29/8/2011, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy xử 30 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Tiền án: - Bản án số 127 ngày 12/7/2019, Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 32 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo kháng cáo. Bản án phúc thẩm số 670 ngày 06/9/2019, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử y án. Ra trại ngày 29/01/2021 (chưa được xóa án tích).

- Bản án số 242 ngày 28/9/2021, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai xử phạt 20 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 18/01/2023 (chưa được xóa án tích).

Danh chỉ bản số 49, lập ngày 13/02/2023 tại Công an quận Ba Đình, Hà Nội. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 01/02/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

2- Họ tên: Trần Duy H, sinh năm 1975; Giới tính: Nam; ĐKNKTT và ở: Số 36, phố C, phường Đ, quận Ba Đình, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Trần Quang Phú (Thiệu) (đã chết); Con bà: Đỗ Thị Mỹ, sinh năm 1952; Anh, chị, em ruột: Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2.

Nhân thân:

- Ngày 01/9/1989, Công an quận Ba Đình bắt về hành vi Xâm phạm tài sản của người nước ngoài.

- Bản án số 315 ngày 22/11/1994, Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân.

- Bản án số 167 ngày 11/5/1996, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân.

- Bản án số 1022 ngày 20/7/1998, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân.

- Bản án số 191 ngày 29/8/2011, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy xử 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Tiền án: Bản án số 405 ngày 22/12/2020, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 10/12/2021 (chưa được xóa án tích).

Danh chỉ bản số 73, lập ngày 19/02/2023 tại Công an quận Ba Đình, Hà Nội. Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 10/02/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Nguyễn Hoàng L, sinh năm 2000; ĐKNKTT: Số 44/29, phố A, phường Q, quận Đống Đa, Hà Nội. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 01/02/2023 Nguyễn Như T gọi điện thoại rủ Trần Duy H đi trộm cắp xe máy, H đồng ý. Khoảng 19 giờ cùng ngày T điều khiển xe máy Honda Wave màu xanh, BKS: 29E9-8891 đến nhà của H tại số 36 Cao Bá Quát, Điện Biên, Ba Đình, Hà Nội đón H và đi qua nhiều tuyến phố để tìm ai sơ hở thì trộm cắp xe máy. Đến khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, khi 2 đối tượng đi đến khu vực trước cửa nhà số 19 An Trạch, phường Quốc Tử Giám, Đống Đa, Hà Nội, phát hiện thấy chiếc xe máy Honda Wave màu trắng đen bạc, BKS: 29E2 – 425.99 của anh Nguyễn Hoàng L (Sinh năm: 2000; HKTT: 44/29 AT, phường Q, Đống Đa, Hà Nội) đang để trên vỉa hè trước cửa nhà, đầu xe hướng vào trong nhà, không có người trông giữ. Hai đối tượng đi qua sau đó quay lại, T dừng xe dưới lòng đường trước cửa số nhà 19 An Trạch, cách chiếc xe máy của anh L khoảng 05 mét. T xuống xe đi bộ lại gần chiếc xe máy trên, còn H ngồi trên xe máy của T để cảnh giới và cản trở cho T bỏ chạy nếu có người phát hiện. Phát hiện chiếc xe máy có khóa cổ, không khóa càng, T lấy bộ vam phá khóa trong túi quần trước bên phải đã chuẩn bị sẵn, cắm vào ổ khóa điện phá khóa và nổ máy lấy xe phóng đi về hướng phố Hào Nam. H đi xe máy theo sau thì phát hiện có người đuổi theo T, đến đầu phố Hào Nam thì không thấy T đâu nên H bỏ về nhà. Ngay sau khi T vừa lấy được xe máy, lúc này, anh Phùng Quốc Dũng (Sinh năm: 1978; Chỗ ở: 19 An Trạch, phường Quốc Tử Giám, Đống Đa, Hà Nội) đi xe máy về nhà có nhìn thấy T đi xe máy từ trước nhà mình đi ra và có 01 đối tượng khác đi xe máy phía sau, do nghi ngờ là trộm cắp nên anh Dũng đã đi theo và gọi điện hỏi người nhà có bị mất xe máy không thì được biết là vừa bị mất trộm xe máy của anh L nên anh Dũng đã truy hô „‟Cướp‟‟ và cùng một số người dân đuổi theo T. Thấy vậy, T phóng xe bỏ chạy theo hướng Cát Linh ra Giảng Võ rồi đến Nguyễn Thái Học, sau đó vòng lại vị trí lấy trộm xe máy và chạy tiếp ra Cát Linh, Kim Mã. Khi T chạy đến ngã tư phố Vạn Phúc - Vạn Bảo thì tổ công tác Công an phường Liễu Giai đang làm nhiệm vụ phát hiện có người dân đang truy hô đuổi theo T nên đã đuổi theo. Khi T chạy đến trước cửa số 317 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội, lúc này khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày thì công an phường Liễu Giai và một số người dân bắt giữ được T cùng tang vật đưa về trụ sở Công an phường giải quyết.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Như T và Trần Duy H đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, mục đích trộm cắp xe máy để bán lấy tiền ăn tiêu. T khai đã mua bộ vam phá khóa của một phụ nữ không quen biết tại khu vực chợ Trời, Hai Bà Trưng, Hà Nội vào ngày 30/01/2023 để làm công cụ trộm cắp xe máy.

Vật chứng vụ án

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ những đồ vật, tài sản gồm:

- Tạm giữ của Nguyễn Như T gồm: 01 chiếc xe máy Honda wave BKS 29E-42599, 01 bộ vam phá khóa xe máy 3 mũi, 01 kìm cắt nhỏ, 01 điện thoại di động Nokia Viettel HLPV04 màu xanh.

- Tạm giữ của Trần Duy H gồm: 01 điện thoại di động Nokia màu đen, 01 căn cước công dân mang tên Trần Duy H.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTS ngày 24/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- Ủy ban nhân dân quận Ba Đình, kết luận: chiếc xe máy Honda Wave màu trắng đen bạc, BKS: 29E2-42599 trị giá là 15.000.000 đồng (Mười năm triệu đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe máy vật chứng cho người bị hại là anh Nguyễn Hoàng L, anh L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự.

Đối với 01 căn cước công dân mang tên Trần Duy H, Cơ quan điều tra đã trao trả cho gia đình bị cáo H theo đề nghị của H.

Đối với chiếc xe máy Honda Wave màu xanh, BKS: 29E9-8891 của T sử dụng, qua điều tra là xe máy của bố đẻ Nguyễn Như T là ông Nguyễn Vĩnh Năm (Sinh năm 1938; Trú tại: Số 4/1/53 Tân Ấp, Phúc Xá, Ba Đình, Hà Nội) cho T mượn sử dụng. Sau khi biết T bị Công an bắt, anh Nguyễn Trung Nam (Sinh năm 1975; Trú tại: 29 A7 An Dương, Yên Phụ, Tây Hồ, Hà Nội) là anh trai T đã đến gặp H lấy chiếc xe máy về nhà và theo ý kiến của ông Năm đem bán cho một người không quen biết tại chợ xe máy Chùa Hà do xe đã cũ.

Tại phiên tòa:

* Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

* Tại Bản cáo trạng số 127/CT-VKSĐĐ, ngày 17/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố Nguyễn Như T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Trần Duy H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

- Điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhƣ T mức án từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù.

- Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Duy H mức án từ 16 tháng tù đến 20 tháng tù.

Miễn áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo và xử lý vật chứng: Tịch thu sung công 01 điện thoại di động Nokia Viettel HLPV04 màu xanh thu giữ của Nguyễn Như T và 01 điện thoại di động Nokia màu đen thu giữ của Trần Duy H. Tịch thu tiêu hủy 01 bộ vam phá khóa xe máy 3 mũi và 01 kìm cắt nhỏ thu giữ của Nguyễn Như T.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được nhận lại toàn bộ tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên không xét.

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Đống Đa, Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Những căn cứ xác định tội danh:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:

Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 01/02/2023, tại khu vực trước cửa nhà số 19 An Trạch, phường Quốc Tử Giám, quận Đống Đa, Hà Nội; Nguyễn Như T và Trần Duy H đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe máy Honda Wave màu trắng đen bạc, BKS: 29E2 – 425.99 trị giá 15.000.000 đồng (Mười năm triệu đồng) của anh Nguyễn Hoàng L. Tài sản đã được Cơ quan điều tra thu giữ và trao trả cho bị hại.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Như T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo Nguyễn Như T phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên phải chịu tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Trần Duy H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án và vai trò của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý bất bình trong quần chúng nhân dân. Đây là vụ án có đồng phạm nH là đồng phạm giản đơn, bị cáo Nguyễn Như T là người khởi xướng, rủ rê, trực tiếp thực hiện việc phá khóa trộm cắp xe máy với vai trò chính, bị cáo Trần Duy H tham gia với vai trò giúp sức, cảnh giới giúp cho T thực hiện việc trộm cắp nên có vai trò thấp hơn bị cáo T.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Bị cáo T có nhân thân xấu, đã bị đưa ra xét xử nhiều lần đều về hành vi xâm phạm sở hữu, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo H có nhân thân xấu, đã bị đưa ra xét xử nhiều lần về hành vi xâm phạm sở hữu và tàng trữ trái phép chất ma túy. Lần phạm tội này của bị cáo H thuộc trường hợp tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về áp dụng hình phạt đối với các bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo không có nghề nghiệp; vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được nhận lại toàn bộ tài sản, không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xét.

Về vật chứng vụ án: Đối với 01 điện thoại di động Nokia Viettel HLPV04 màu xanh thu giữ của Nguyễn Như T và 01 điện thoại di động Nokia màu đen thu giữ của Trần Duy H, các bị cáo sử dụng điện thoại để liên lạc rủ nhau đi trộm cắp tài sản nên tịch thu sung công. 01 bộ vam phá khóa xe máy 3 mũi và 01 kìm cắt nhỏ thu giữ của Nguyễn Như T là công cụ bị cáo mang đi để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Nguyễn Nhƣ T, Trần Duy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1- Về mức hình phạt:

1.1- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhƣ T 34 (ba mƣơi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/02/2023.

1.2- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự:

- Xử phạt bị cáo Trần Duy H 18 (mƣời tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/02/2023.

2- Về hình phạt bổ sung: Không phạt tiền đối với các bị cáo.

3- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được nhận lại toàn bộ tài sản, không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xét.

4- Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu sung công 01 điện thoại di động Nokia Viettel HLPV04 màu xanh và 01 điện thoại di động Nokia màu đen.

- Tịch thu tiêu hủy 01 kìm cắt nhỏ và 01 bộ vam phá khóa.

Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 181 ngày 19/5/2023 của Cơ quan điều tra Công an quận Đống Đa và Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa.

5- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Như T, Trần Duy H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ